Giới thiệu sơ lược Đàn Ðáy ngày xưa tên là Vô để cầm (nghiã là đàn không có đáy), Ðàn Ðáy còn có tên là Ðới cầm (1). Ðàn Ðáy có dọc đàn (cần đàn) rất dài, có phím cao, có thể tháo ráp để di chuyển được vì cần Ðàn Ðáy rời ra với thùng đàn, thùng đàn có 1 lỗ để cắm cần đàn vào trong thùng với một miếng tre để nêm chặt giữa cần đàn và thùng đàn. Ðàn Ðáy là một nhạc khí dây gảy độc đáo của Dân tộc Việt, ở miền Bắc Ðàn Ðáy xuất hiện từ đời nhà Lê (thế kỷ XV-XVIII). Ðàn Ðáy có 3 dây khác hẳn Ðàn Tam là mặt đàn làm bằng gỗ chứ không bịt da trăn, Ðàn Ðáy có đủ khả năng của Ðàn Nguyệt, Ðàn Tam và Ðàn Tỳ Bà.
Đàn đáy (Four - String lute) | ||||||
| 11:26' 20/08/2003 (GMT+7) | ||||||
Xếp loại Đàn Ðáy là một loại đàn đặc biệt do người Việt Nam sáng tạo, là loại nhạc khí chỉ có ở Việt Nam, trên thế giới không có một cây đàn nào giống cây Ðàn Ðáy về hình dáng, cách lắp phím và cách đánh. Ðàn Ðáy có đặc tính dân tộc rõ rệt với đặc điểm độc đáo là ở ngón nhấn ở mọi cây đàn khác âm thanh sẽ nghe cao lên trong lúc ở Ðàn Ðáy thì với ngón nhấn trong khi bấm lên dây, miết dây về phía bầu vang làm cho đoạn dây từ cung phím đến bộ phận mắc dây chùng xuống âm thanh sẽ nghe thấp đi, cách đàn có tiếng lia, tiếng vẫy, tiếng mượn. Hình thức cấu tạo
- Thùng đàn: hình thang cân, đáy lớn ở trên rộng khoảng 24cm, đáy bé ở dưới rộng khoảng 20cm, cạnh huyền khoảng 35cm. Mặt đàn làm bằng gỗ nhẹ, xốp, để mộc, thành đàn cao khoảng 9cm bằng gỗ cứng. Ðáy đàn khoét một khoảng trống hình chữ nhật dài 20cm, rộng 9cm ở sau lưng. Trên mặt đàn có gắn một bộ phận để mắc dây gọi là ngựa đàn.
Màu âm Ðàn Ðáy hơi đục, ấm, có chiều sâu, thích hợp cho những tình cảm lắng đọng. Tầm âm Ðàn Ðáy có thể hơn hai quãng 8. Từ : Rê đến Ðô3 (d - c3). Khoảng âm dưới: tiếng đàn ấm nhưng mờ đục, khoảng âm giữa: tiếng đàn thanh thoát, khoảng âm cao: tiếng đàn trong sáng gần như Ðàn Nguyệt. Ví dụ:
Kỹ thuật diễn tấu Kỹ thuật tay trái: Ðàn Ðáy do dọc (cần đàn) rất dài, phím đàn rất cao nên kỹ thuật tay trái có những ngón độc đáo như ngón nhấn, ngón láy, ngón chùng, tiếng đàn ngón luyến thấp nghe mềm mại, độc đáo. Ngón nhấn: (nhấn bằng gân tay: nhấn và miết dây đàn cho chùng lại). Ngón nhấn tạo cho hai âm nối liền nhau, nghe mềm mại . Ngón mổ: tay trái ngón 1 bấm vào một cung phím, tay phải gảy dây, khi âm thanh vừa phát ra, ngón 2 hoặc 3 bấm mạnh vào cung phím khác (thường là liền bậc cao hoặc thấp) âm thanh từ cung phím nầy vang lên mà không phải gảy đàn. Âm luyến nghe được do một phần của dây đàn còn chấn động, một phần do ngón tay mổ vào cung phím tạo thêm chấn động. Thạc sĩ Võ Thanh Tùng |
http://giaidieuxanh.vietnamnet.vn/nhaccudantoc/2004/01/42541/