| Trống Chầu |
Xếp loại
Trống Chầu là nhạc khí màng rung gõ do người Việt Nam sáng tạo.
Hình thức cấu tạo
Trống Chầu tương tự Trống Cái nhưng được làm công phu hơn. Trống Chầu là loại trống được bịt da trâu hai mặt, đường kính khoảng 50cm. Tang trống bằng gỗ mít cao khoảng 50cm.
Trống Chầu trong Hát Ả Ðào tương tự như Trống Ðế trống có hai mặt đường kính khoảng 15cm, được bịt bằng da nách trâu nạo mỏng, tang trống làm bằng một khúc gỗ mít khoét rỗng ruột cao khoảng 18cm, dùi trống còn gọi là roi Chầu làm bằng gỗ nguyệt quý hoặc gỗ găng. Trống Chầu chỉ đánh một dùi, âm thanh Trống Chầu của Hát Ả Ðào cao, trong sáng.
Màu âm
Tiếng Trống Chầu to, trầm và vang xa.
Kỹ thuật diễn tấu
Người ta đánh Trống Chầu bằng dùi gỗ găng và chỉ đánh một dùi. Trong hát Tuồng, Trống Chầu điểm câu và đặc biệt là để khen, chê bằng một số âm thanh qui định: 1 tiếng là điểm câu, 2 tiếng là khen nghệ sĩ, 3 tiếng là rất khen, 1 tiếng tịch, (một dùi chặn, một dùi đánh) là chê, 1 tiếng cắc (đánh vào tang) là góp ý thầy tuồng. Trong Hát Chèo, cũng có qui định riêng. Cầm Chầu trong Sân khấu Tuồng hoặc Chèo đòi hỏi trình độ hiểu biết cao về mỗi loại nghệ thuật biểu diễn nầy.
Tùng: đánh vào giữa mặt trống, âm thanh kêu to, trầm và ngân dài.
Cắc: đánh vào rìa mặt trống âm thanh chắc nịch.
Tùng-Cắc: Trống hồi thường đánh trước to và chậm, dần dần đổ hồi thì nhỏ và nhanh lên.
Vị trí Trống Chầu trong các Dàn nhạc
Trống Chầu tham gia các Dàn nhạc Sân khấu Tuồng, Sân khấu Chèo, trong Hát Ca Trù. Thạc sĩ Trần Thanh Tùng http://giaidieuxanh.vietnamnet.vn/nhaccudantoc/2004/01/43481/ |