Có một "thực trạng" dễ nhận thấy ở Việt Nam: Cái gì càng cần bảo tồn thì càng bị biến dạng nhanh và nguy cơ bị xâm hại luôn ở mức... báo động. Cứ nhìn cách người ta đối xử với các di sản văn hoá đã được công nhận hay đang trên đà (hy vọng được) công nhận thì thấy ngay. Giữa cơn sốt lập di sản, các tài sản văn hoá đã bị biến thành vật trung gian để người ta thể hiện cái lòng yêu di sản, thực ra là cái "tôi" to đùng của mình. Dân ca cũng không nằm ngoài cái vòng ấy. Trong cơn say mang tên "bản sắc", dân ca đã được khai thác triệt để, đến độ biến dạng, để phục vụ cho cả thói tôn sùng lẫn nỗi sợ bản sắc... Tội nghiệp cho dân ca! | ||
| 07:38' 18/03/2006 (GMT+7) | ||
Ca trù bất thần trở thành mốt thời thượng khi là chất liệu chính tạo nên một loạt những bài hát được đặc biệt ưa chuộng tại các cuộc... thi hát. Những bài hát có pha ca trù tạo cho thí sinh cơ hội uốn éo giọng hát đủ kiểu, trong ý nghĩa phô diễn kỹ thuật. Tại cuộc thi Tiếng hát Truyền hình Tp.HCM năm 2004, còn có thí sinh rất "tự hào" khẳng định mình "sở trường" hát nhạc trẻ và ca trù. Hay một trường hợp khác, một bài hát có pha chút ca trù làm cảnh được thổi phồng lên thành "rock ca trù", cứ như thể một phát kiến âm nhạc giật gân. Nghe qua những xôn xao như thế, dễ có cảm tưởng dân ca đang có cuộc sống khá mạnh khoẻ trong đời sống âm nhạc hiện đại, và cũng khá... danh giá bên cạnh nhạc trẻ ồn ào lắm chuyện.
Nhưng cái danh ấy chỉ là lớp vỏ bên ngoài. Và không chỉ ca trù có số phận phải làm vỏ bọc cho thói sính dân ca mang danh chuộng bản sắc ấy. Người ta đắm đuối mê mệt khi nghe được một câu quan họ được sao chép đưa vào một bài "nhạc nhẹ" nào đó, ngơ ngẩn thẩn thơ khi thấy một điệu lý cải biên theo kiểu nhạc cũ lời mới, và rất có thể vỗ tay nhiệt liệt khi thấy một bài hip-hop dựa trên nền dân ca Nam Bộ, hoặc hân hoan tột độ khi chứng kiến một thành quả world music nào đó, chẳng hạn những tác phẩm của Nguyên-Lê hay gần đây là Quốc Trung. Tất cả những thái độ ấy đều dễ hiểu. Đó là dấu hiệu của niềm tự hào sâu xa bắt nguồn từ nỗi mặc cảm nhược tiểu văn hoá cũng rất... sâu xa. Nỗi mặc cảm không ra được với thế giới, không sánh được với những cường quốc có bề dày văn hoá lớn hơn và sức ảnh hưởng đến thế giới lớn hơn, đã sinh ra một tâm lý chuộng đồ cổ, coi đó là thứ hiếm quý độc nhất vô nhị. Những niềm tự hào kiểu này thường khá... buồn cười. Cũng như không thể sánh được với các láng giềng xung quanh về mức độ văn minh hoá mà người ta quay về bám víu lấy mấy khu phố cổ xập xệ và mơ mộng một ngày những ngôi nhà cũ nát trầm trọng ấy sẽ thành di sản thế giới để mà... tự hào, trong khi không hề có một động thái nào nghiêm chỉnh để củng cố những di sản ấy cho xứng đáng với tầm vóc thực sự của chúng. Với âm nhạc cũng vậy, người ta mải mê khai thác chất liệu dân ca, vui mừng quá đỗi khi được nghe một bài hát chút âm hưởng dân ca, mà hiếm khi chịu biết rằng dân ca thực sự đang đứng trước nguy cơ phai nhạt, biến dạng, thậm chí biến mất luôn. Và rồi chuyện dân ca chỉ còn tồn tại dưới dạng những câu nhạc rơi rớt trong những "bài hát mới" sẽ không phải là "nguy cơ" nữa, mà hoàn toàn có thể xảy ra một cách... bình thường, thản nhiên như cách người ta vẫn nhìn về những thứ được coi như "di sản". Chúng ta không thể nào phó thác việc bảo tồn dân ca cho những nhạc sĩ được coi là gắn bó với âm nhạc dân tộc, chẳng hạn Phó Đức Phương, Nguyễn Cường hay "thời sự" hơn là Quốc Trung, Lê Minh Sơn, Nguyễn Vĩnh Tiến... bởi họ cũng chỉ là những người "mượn" dân ca như một nguồn cảm hứng sáng tạo mà thôi, mà đã là cảm hứng thì có thể thiên biến vạn hoá, tóm lại là không thể coi đó là "dân ca" nữa, những nghệ sĩ biểu diễn dân ca cũng không thể gánh cái trách nhiệm nặng nề ấy, bởi đơn giản việc biểu diễn thường chỉ là việc mưu sinh của họ, và họ có thể chuyển sang việc khác nếu "dân ca" không nuôi được họ. Chúng ta lại càng không thể trông mong vào world music trong tham vọng "nâng cấp" cho dân ca hay mở rộng tầm ảnh hưởng của dân ca với thế giới. World music cảnh vẻ chỉ thích mượn chứ không thích đảm đương cái việc quảng bá cho dòng nhạc nào khác ngoài chính nó. Dân ca bắt nguồn trong lòng dân gian, dân tộc, và chỗ thích hợp nhất của nó là ở chính nơi nó đã sinh ra. Những cố gắng sân khấu hoá dân ca, chuyên nghiệp hoá dân ca thường chỉ đem lại những kết quả trái chiều với mong muốn duy trì dân ca. Bởi dân ca trên sân khấu, kiểu "sân khấu cồng chiêng", "sân khấu ca trù" nhằm phục vụ những khách du lịch phương Tây tò mò... không thực sự là "dân ca" nữa, cũng như dân ca trong vô vàn những bài hát lai lai, dị dị đang được biểu diễn tràn lan khắp nơi chỉ được coi như thứ làm cảnh, người ta thích thì cho vào để được tiếng "bản sắc", không thích thì cho ra rìa. Số phận của dân ca là như vậy, chẳng đáng tội nghiệp lắm sao? Minh Tú |
http://giaidieuxanh.vietnamnet.vn/nhacviet/2006/03/551469/