Music news from a Vietnamese traditional musician

Category » Phỏng vấn TQH

Vương Huyền phỏng vấn Tiến sĩ Trần Quang Hải : Cuộc đời và âm nhạc, phần 2

Trần Quang Hải /Cuộc đời và âm nhạc (tiếp theo)

HQ:   Chị Bạch Yến đang nổi danh với những bản nhạc ngoại quốc như thế, vậy tại sao và làm cách nào mà anh lại thuyết phục chị trở về với nhạc dân tộc Việt Nam?

TQH:  Việc đưa Bạch Yến trở về nguồn là do Bạch Yến muốn là chánh. Tôi chỉ có đưa cho Bạch Yến những tài liệu dân nhạc Việt Nam để nghe và thấm nhuần. Khi Bạch Yến có ý định trở về nhạc dân tộc, Bạch Yến không nghe nhạc ngoại quốc và chỉ nghe nhạc Việt Nam thôi để cho lỗ tai không bị chi phối bởi nhạc khác. Cách ngân nga giữa hai loại nhạc Pop tây phương và dân nhạc Việt Nam hoàn toàn khác biệt. Do đó, phải mất nhiều thì giờ để cho dòng nhạc Việt thấm sâu vào trong huyết quản. Tôi cho Bạch Yến nghe nhiều nhạc dân ca. Bạch Yến đi nghe tôi thuyết trình, hoạt náo dân nhạc tại các trường học. Dần dần Bạch Yến khám phá cái hay đẹp trong nhạc dân tộc. Và tôi cảm hóa Bạch Yến trở về nguồn sau một năm sống chung. Tôi nói với Bạch Yến rằng vợ chồng đi hát chung có đôi có cặp để cùng chia sẻ những giây phút vui buồn. Từ đó chúng tôi đi lưu diễn khắp các quốc gia trên thế giới. Tính cho tới ngày đã hơn 1500 buổi trình diễn, thực hiện 3 dĩa 33 vòng, 3 CD chung với nhau và tham dự gần 100 đại nhạc hội quốc tế (traditional music festivals) tại 50 quốc gia.

HQ:   Trong bài "Năm Đời Nhạc Sĩ Họ Trần" anh rất hãnh diện cho biết những tài năng công trình đóng góp lớn lao của dòng tộc họ Trần đối với truyền thống nhạc Việt, kể từ đời thứ nhất, ông Trần Quang Thọ, đến đời thứ năm là anh, Trần Quang Hải. Tuy nhiên, khi anh nhắc đến đời thứ sáu thì anh lại tỏ vẻ quan tâm không biết có còn ai tiếp nối công trình này, mặc dầu con gái của anh cũng đã theo học ngành âm nhạc như anh.  Xin anh cho biết thêm cảm nghĩ này.

TQH:  Trong gia đình nhạc sĩ họ Trần, chiều hướng phát huy càng ngày càng rộng. Ông sơ tôi, Trần Quang Thọ là nhạc sĩ trong triều nhà Nguyễn, chỉ được biết trong thành phố Huế. Ông cố tôi, Trần Quang Diệm, nổi tiếng về đàn tỳ bà ở vùng ông cư ngụ tại miền Nam. Ông nội tôi, Trần Quang Triều, tự Bảy Triều, nổi tiếng về đàn kìm, và sáng chế dây Tố Lan (cách lên hai dây đàn kìm thành một quãng 7 thứ chứ không phải là quãng 5 như mọi người thường lên dây để đàn cổ nhạc) dùng trong cổ nhạc miền Nam, và nổi tiếng khắp miền Nam. Ông thân tôi, Trần Văn Khê, nổi tiếng về nghiên cứu âm nhạc, đậu tiến sĩ âm nhạc tại đại học đường Sorbonne, Paris vào năm 1958, được cả xứ Việt Nam biết, và ở hải ngoại trong giới nghiên cứu âm nhạc thế giới. Tôi là nhạc sĩ đời thứ năm được may mắn kết hợp nhiều truyền thống âm nhạc mà tôi nghĩ ít có ai có diễm phúc đó. Tôi học nhạc Tây phương tại trường quốc gia âm nhạc Saigon về vĩ cầm. Tôi đã biết đàn piano, guitar, mandoline, banjo, sáo tây khi còn ở Saigon. Khi sang Pháp, tôi học nhạc học (musicology), dân tộc nhạc học (ethnomusicology), nhạc điện thanh (electro-acoustical music) với ông Pierre Schaeffer, sáng lập viên của nhạc điện thanh Pháp, nhạc Ba Tư, Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bổn, Đại Hàn, Cao Miên, Nam Dương, Việt Nam tại trường Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông Phương (Center of Studies for Oriental Music) tại Paris trong vòng 8 năm vừa lý thuyết và thực tập. Tôi lại là một trong những thành viên của phong trào tái thiết nhạc dân gian ở Pháp (Folk Music), tham gia vào việc tổ chức đại nhạc hội dân nhạc (Folk Music Festivals) ở Âu châu từ năm 1970 tới 1975. Tôi lại có dịp thể nghiệm sáng tác nhạc điện thanh, nhạc Jazz (free Jazz), nhạc tùy hứng (improvized music), nhạc tùy hứng tập thể (improvized collective music), nhạc thế giới (world music). Sự tham gia trực tiếp trong các đợt sóng âm nhạc đương đại thế giới giúp cho tôi có một cái nhìn khác biệt so với đại đa số nhạc sĩ, soạn nhạc gia của Việt Nam. Lĩnh vực nghiên cứu của tôi không bị giới hạn trong nhạc Việt hay Á châu mà bành trướng khắp thế giới. Thế giới thuộc nhiều địa hạt biết tới tôi. Không những tôi hành nghề nhạc sĩ mà còn là một người nghiên cứu dân tộc nhạc học. Tôi làm việc cho Trung Tâm Quốc gia nghiên cứu khoa học (National Center for Scientific Research) của Pháp, đậu tiến sĩ âm nhạc vào năm 1973, chuyên về nghiên cứu nhạc Á châu, và các kỹ thuật giọng hát trên thế giới, đặc biệt là hát đồng song thanh (chant diphonique/ overtone singing). Sau hơn 30 năm nghiên cứu về kỹ thuật hát này (từ 1969), tôi trở thành chuyên gia duy nhứt trên thế giới về hát đồng song thanh. Tôi có trên 7.000 học trò theo học với tôi về hát đồng song thanh tại 60 quốc gia trên thế giới. Tôi có sáng tác một số ca khúc tân nhạc (khoảng 400 bài) và hàng trăm bài nhạc cho đàn tranh, đàn bầu, đàn môi, muỗng, vv. được cầu chứng tại SACEM (Societe des auteurs, compositeurs et editeurs de la musique / Hội tác quyền Pháp) mà tôi là hội viên từ năm 1980.

Con gái tôi là Trần Thị Minh Tâm (sinh năm 1973 tại Pháp), học piano 12 năm tại trường âm nhạc ở nơi tôi cư ngụ (Limeil Brevannes), học nghiên cứu nhạc học (musicology) tại Đại học đường Sorbonne, Paris, đậu cao học nhạc học nhưng không tiếp tục cho tới tiến sĩ vì con gái tôi thích tổ chức đại nhạc hội (festivals). Sau khi ra trường, Minh Tâm tìm được việc làm ở Thụy Sĩ và sau bốn năm làm việc, bây giờ giữ chức vụ quan trọng của Classical Music Verbier Festival, một trong ba festivals lớn nhứt của Thụy Sĩ (ngân quỹ dành cho đại nhạc hội hàng năm là 50 triệu Mỹ kim ). Minh Tâm là người tổ chức lớp nhạc hè (Summer Academy of Music) dành cho những nhạc sinh giỏi trong các trường nhạc nổi tiếng thế giới vì lớp nhạc này do các giáo sư nổi tiếng nhứt thế giới tới dạy (như ông Rostropovitch, Isaac Stern, vv.)  Con gái tôi lúc nhỏ bị 'mặc cảm' về nhạc khi có ông nội và cha là người giỏi nhạc. Đời thứ sáu đã chuyển hướng sang ngành nhạc khác mặc dù cũng trong ngành nhạc nói chung.

HQ:  Cùng với mối quan tâm trên, anh cũng đang cố tâm tìm người để "truyền nghề" lại, việc đó tiến hành ra sao rồi thưa anh? Anh dự tính sẽ dùng cách nào để trao lại những kiến thức của anh, bằng sách vở, thâu âm, hay quay video?

TQH: Việc truyền nghề lại cho một người trẻ rất khó khăn vì phải hội đủ một số điều kiện mà tôi đòi hỏi. Tại sao khó và tại sao phải theo đòi hỏi của tôi? Chuyện dễ hiểu là tôi chọn người và bảo đảm việc học, ăn ở, tức là tôi nuôi người đó từ nhỏ cho tới lớn, học thành tài rồi tôi trả lại cho gia đình người đó. Điều kiện tôi đưa ra cho tới nay chưa tìm được người đúng như ý, cho nên tôi vẫn tiếp tục tìm. Về sách vở tôi có viết một vài cuốn căn bản như quyển 'Musiques du Mondé (Nhạc thế giới) vào năm 1993, được dịch ra tiếng Anh năm 1994, dịch ra tiếng Đức năm 1996 và dịch ra tiếng Tây Ban Nha năm 1998. Sách dày 360 trang, có 3 CD, được dùng làm sách giáo khoa ở Pháp. Đã bán được trên 50.000 quyển. Ngoài ra có một số sách khác, dĩa 33 vòng, dĩa CD (15 dĩa nhựa, 8 CD), tổng cộng đã hơn 1 triệu dĩa bán. Về phim video, tôi có làm tặng cho bộ giáo dục xứ Úc một cuốn phim về nhạc VN quay năm 1986 tại tỉnh Perth (Úc châu). Phim này được dùng tại các trường tiểu học trên toàn xứ Úc từ mười mấy năm qua. Tôi đã cộng tác với 40 đài truyền hình của nhiều quốc gia để làm những chương trình giáo dục âm nhạc (rất tiếc là không có chiếu trong cộng đồng VN). Tôi có làm một cuốn phim 16 ly 'Le Chant des Harmoniques' (The Song of Harmonics) thực hiện năm 1989, 38 phút , về hát đồng song thanh, đã đoạt 4 giải quốc tế tại Estonia, France, Canada trong hai năm 1990, 1991.

HQ: Nhìn lại quãng đời đi qua, xin anh chia sẻ những khó khăn cũng như thành công của anh. Thành công nào anh mãn nguyện nhất?

TQH:   Suốt trong thời gian tôi sống ở hải ngoại, tôi đã gặp nhiều khó khăn trong giai đoạn đầu của sự nghiệp âm nhạc. 15 năm sống đương đầu với thiên hạ, tìm một lối đi cho việc phát triển âm nhạc. Làm sao cho thiên hạ biết tới nhạc Việt, nhạc Á châu. Sau khi thực hiện dĩa hát La Cithare Vietnamienne par Tran Quang Hai đầu tiên vào năm 1971 tại Paris, dần dần giới Pháp biết tới tôi. Sau đó, cả Âu châu, rồi khi tôi tạo một chỗ đứng vững chắc, cả thế giới trong âm nhạc biết tới tôi qua số concerts và đại nhạc hộ i tham dự từ 35 năm qua. Sự thành công lớn nhứt của tôi là việc khám phá kỹ thuật hát đồng song thanh vào năm 1969. Chính nhờ bộ môn này mà ngày nay nhiều giới nghiên cứu biết tới tôi: âm nhạc, y khoa, âm thanh học, soạn nhạc, âm nhạc điều trị học (music therapy), tâm lý điều trị học (psycho therapy), khoa đở đẻ. Tôi đã khắc phục kỹ thuật hát đồng song thanh (được mời làm chánh chủ khảo - president of the Jury - của cuộc thi hát đồng song thanh tại thủ đô Kyzyl, xứ Tuva năm 1995), và sáng tạo thêm một số kỹ thuật thể nghiệm mà trên thế giới này chỉ có một mình tôi có thể hát được thôi.

HQ: Anh có ước nguyện gì mà anh chưa đạt được? Anh có hối tiếc việc gì không?

TQH:   Ước nguyện của tôi là làm sao về Việt Nam, trao lại cho dân tộc Việt Nam những gì tôi đã học hỏi được ở hải ngoại. Nhưng tiếc thay, trong hoàn cảnh hiện tại chưa cho phép tôi thực hiện được. Đó là việc tôi tiếc nhứt. Nhưng hy vọng rồi sẽ có ngày giấc mơ trở thành sự thật.

HQ:   Anh muốn để lại gì cho đời và anh muốn người đời nghĩ gì về anh?

TQH:  Tôi đã để lại cho đời qua những sách vở, bài nghiên cứu (250 bài viết ), dĩa hát (25 dĩa), phim ảnh (7 cuốn phim tài liệu), và sáng tác (trên 400 bản nhạc), và rất đông học trò (trên 7000 người cho tới năm 2000) và hàng tỷ người đã biết tôi là nhạc sĩ đàn tranh, đàn môi, đánh muỗng, hát đồng song thanh qua hơn 300 buổi phát thanh (radio), truyền hình (television) của 50 quốc gia. Đó là gia tài âm nhạc tôi để lại cho đời. Tôi chỉ mong muốn người đời nhớ tới một nhạc sĩ Việt Nam, trong một giai đoạn lịch sử nào đó, đã lưu lạc ở hải ngoại và đã hiến dâng cả cuộc đời cho âm nhạc, cho nghiên cứu âm nhạc nói chung, và cho văn hóa nghệ thuật âm nhạc Việt Nam nói riêng.

HQ:  Anh có lời nhắn nhủ nào đến các bạn trẻ đang tập tễnh bước vào con đường sáng tác nhạc?  Họ có nên chọn ngành ca nhạc làm nghề chính không hay chỉ làm "nghề tay trái"?  Họ phải làm thế nào để phổ biến những tác phẩm của họ?

TQH:  Vấn đề sáng tác nhạc không phải là chuyện dễ, nhưng không phải là chuyện không thể làm được để có thể sống với nghề nhạc. Muốn được như vậy, điều kiện tiên khởi là phải theo học lớp sáng tác và cần nhứt là phải có trình độ âm nhạc cao để có thể viết nhạc hoàn chỉnh. Nếu sống ở hải ngoại thì nên hòa mình vào thế giới tây phương vì thị trường rộng, chứ nếu sáng tác nhạc Việt cho người Việt thì khó sống lắm. Tôi mong và kỳ vọng nơi thế hệ trẻ có người tiếp nối chúng tôi để mang lại cho nhạc Việt một chỗ đứng ngang hàng với các nhạc sĩ trên thế giới. Ngày hôm nay số nhạc sĩ Việt ở hải ngoại có chỗ đứng trong giới Tây phương không có bao nhiêu người. Ở Pháp, về phía nhạc cổ điển Tây phương đương đại có thể kể nhà soạn nhạc Nguyễn Thiện Đạo (sinh năm 1940), tốt nghiệp lớp sáng tác của nhạc sư Olivier Maessien, là nhạc sĩ Việt Nam đầu tiên có tên trong tự điển Larousse của Pháp. Ông viết nhạc rất mới, đi trước sự cảm nhận của người Việt Nam, đã nhận được nhiều giải thưởng quốc tế về nhạc. Nhà soạn nhạc Tôn thất Tiết tốt nghiệp trường cao đẳng âm nhạc Paris, đã soạn nhạc cho hai cuốn phim của nhà đạo diễn Trần Anh Hùng (phim Mùi Đu Đủ Xanh, và phim Xích Lô) được nhiều giải thưởng quốc tế. Cả hai chuyên về nhạc đương đại Tây phương. Tôi chuyên về sáng tác nhạc điện thanh, nhạc thế giới và nhạc dân tộc. Nhạc sĩ Nguyên Lê chuyên về nhạc Free Jazz, nổi tiếng bên Âu Châu, có phát hành 5 CD về nhạc Jazz với những ban nhạc Jazz. Anh có làm hai CD với nữ ca sĩ Hương Thanh (em gái của nữ ca sĩ Hương Lan) dùng dân ca Việt Nam với nhạc Jazz. Bên Hoa kỳ có nhà soạn nhạc Phan Quang Phục (sinh năm 1962) đậu tiến sĩ âm nhạc của University of Michigan, hiện dạy về sáng tác nhạc điện tử với chức Associate Professor tại trường đại học Indiana University, Hoa Kỳ. Phan Quang Phục sáng tác theo nhạc đương đại nhưng dễ nghe. Hiện nay Phan Quang Phục được xem là một trong 6 nhà soạn nhạc trẻ tuổi nổi tiếng nhứt xứ Mỹ. Anh lại được giải thưởng Grand Prix de Rome (một giải thưởng rất lớn trong ngành soạn nhạc ). Ở Úc châu có ba nhạc sĩ Việt Nam chuyên về sáng tác nhạc đương đại. Nhạc sĩ Hoàng Ngọc Tuấn, chuyên về đàn guitar, có soạn hòa âm mới cho các dân ca, lại viết nhạc cho những comedies musicales / musicals Úc, đang soạn luận án tiến sĩ tại University of Sydney. Nhạc sĩ Nguyễn Mạnh Cường, tốt nghiệp nhạc tại Wellington (Tân Tây Lan), chiếm giải thưởng hạng nhì trong một cuộc thi quốc tế qua nhạc phẩm 'Phụng Vũ' trước khi sang cư ngụ tại Sydney. Lê Tuấn Hùng, đậu tiến sĩ dân tộc nhạc học tại trường đại học Monash University ở Melbourne, có thực hiện vài CD với những sáng tác mới vừa nhạc khí Việt Nam và nhạc khí Nam Dương, Tây phương. Hướng đi về nhạc tuy mới nhưng rất dễ nghe theo chiều hướng New Music, và World Music của trào lưu nhạc đương đại.

Để kết luận tôi rất mong mỏi các em trẻ sinh ra và lớn lên ở các quốc gia Tây phương, có đủ điều kiện để phát triển âm nhạc, nếu chọn con đường âm nhạc thì phải nghĩ rằng sống với âm nhạc là phải hy sinh rất nhiều, phải chấp nhận những khó khăn vật chất lúc ban đầu trước khi được người ta biết tới. Nhạc cũng như hội họa, điêu khắc, làm thơ, viết văn, những gì dính liền với nghệ thuật, mỹ thuật là phải trải qua nhiều khó khăn. Có trở ngại mà vượt qua được thì mình mới thành công, mới có một chỗ đứng vững chắc. Như Nguyễn Bá Học đã viết 'Đường đi không khó vì ngăn sông cách núi, mà chỉ khó vì lòng người ngại núi e sông'. Đó là lời nhắn nhủ của tôi cho thế hể trẻ Việt Nam.

HQ: Xin thành thật cảm ơn anh.

 

Vương Huyền thực hiện



Dĩa hát của Trần Quang Hải:
  1. Cithare Vietnamienne (le Dan Tranh) par Tran Quang Hai. Le Chant du Monde LDX 74454, Paris, 1971, collection Special Instrumental.
  2. Le Chant de la Rivière des Parfums. Productions et Editions Sonores PES 528 003, Paris, 1973.
  3. Vietnam: Nouvelle Musique Traditionnelle. OCORA 558 012, Paris, 1976.
  4. Musique du Vietnam: Tradition du Sud. Anthologie de la musique des Peuples AMP 72903, Paris, 1976.
  5. Musique Traditionnelle du Vietnam. Aide à l'Enfance du Vietnam AEV 01, Paris, 1976.
  6. Musica del Vietnam. Albatros Records VPA 8396, Milan, 1978.
  7. Vietnam: Tran Quang Hai et Bach Yen. Playasound PS 33514, Paris, 1979, collection: Musiques de l'Asie traditionnelle, vol.10.
  8. Cithare et Chants Populaires du Vietnam/ Tran Quang Hai et Bach Yen. Aide à l'Enfance du Vietnam AEV 02, Paris, 1979.
  9. Music of Vietnam. Lyrichord LLST 7337, New York, 1980.

  10. Vietnam/ Tran Quang Hai et Bach Yen. Studio SM 3311.97, Paris, 1983. Grand Prix du Disque de l'Académie Charles Cros 1983
  11. Vietnamese Dan Tranh Music/ Tran Quang Hai. Lyrichord LLST 7375 ,New York, 1983.
  12. Shaman/Tran Quang Hai et Misha Lobko. Didjeridou Records DJD O1, Paris, 1983.
  13. MUSAICA: chansons d'enfants des émigrés. DEVA RIC 1-2, Paris, 1984.
  14. Landscape of the Highlands/ Tran Quang Hai. Music of the World MW 004, New York, 1984.
  15. Le Monde Magique du Dan Tranh/ Tran Quang Hai. Viet Productions VN 1944, Paris, 1985.
  16. CD: Rêves et Réalités - Tran Quang Hai et Bach Yen. Playasound PS 65020, Paris, 1988.
  17. CD: Cithare vietnamienne/Tran Quang Hai. Playasound PS 65103, Paris, 1993.
  18. CD: Fêtes traditionnelles Vietnamiennes / Tran Quang Hai & Bach Yen , Studio SM , Paris, France, 1996.
  19. CD: Landscape of the Highlands/String Music from Vietnam/Tran Quang Hai. Latitudes LAT 50612, North Carolina, USA, 1997.
  20. CD: Phillip Peris/Didjeridu. Les Cinq Planètes CP 10296, Paris, 1997.
  21. CD: Les Guimbardes du Monde / Tran Quang Hai. Playasound PS 66009, Paris, 1997.
  22. CD: That's All Folk! Le Chant du Monde CML 5741015.16, 2CDs, Paris, 1997.
  23. CD: Vietnam: Improvisations , OCORA, Paris , 1998.
5 commercialized cassettes on pop music of Vietnam
1 videocassette on Vietnamese Music (1984)
1 videocassette "Music of Vietnam" produced by Ministry of Education in Perth (Australia) (1989)
1 videocassette on "Tran Quang Hai performance" produced by the Melbourne College of Advanced Education in Melbourne (Australia) (1989)
1 videocassette on "Dan Tranh Music" produced by Volkerkunde Museum, Berlin (Germany) 1991.
Performer for film music in 25 commercialized films
Performer of more than 2,800 concerts in 60 countries around the world since 1966.
Performer of more than 1,000 school music concerts organized by JMF (Jeunesses Musicales de France), JMB (Jeunesses Musicales de Belgique), JMS (Jeunesses Musicales de Suisse), Rikskonsertene of Norway and Sweden.
 
 
Composer
400 pop songs in Vietnamese, French, English
100 musical compositions for different musical instruments: 16 stringed zither, monochord, spoons, Jew's harp, overtone singing.
3 compositions for electro-acoustical music (1975, 1988, 1989, see creative works)
 
Researcher
Author of a book "Âm Nhac Viêt Nam " (Music of Vietnam in Vietnamese) , edited by Nhom Bac Dâu, 361pages, Paris, 1989.
Author of a book "Musiques du Monde" (in French), edited by J-M Fuzeau, 320 pages, 3 CD, Courlay, 1993.(with Michel Asselineau and Eugene Berel)
Author of a book "Musics of the World " (in English), edited by J-M Fuzeau, 320pages, 3 CD, Courlay, 1994. (with Michel Asselineau and Eugene Berel)
Author of a book "Musik aus aller Welt " (in German), edited by J-M Fuzeau, 320pages, 3 CD, Courlay, 1996. (with Michel Asselineau and Eugene Berel)
Author of a book "Musiques et Danses Traditionnelles d'Europe " (in French), edited by J -M Fuzeau, 380pages, 2 CD, Courlay, 1995.
Author or more than 300 articles on Vietnamese and Asian musics
Co-ordinator for New Grove's Dictionary of Musical Instruments on South East Asian Music (1st edition, 1984) 3 volumes
Author of articles in New Grove Dictionary of Music and Musicians (6th edition, 1980, 20 volumes), Algemeine Muziekencyclopedia (Holland, 1982, 12 volumes), Encyclopaedia Universalis (France, 1984, 1986, 1988, 1990, 1991)
Co-author with Hugo Zemp for the film 16mm on the overtone singing style "Le Chant des Harmoniques" (The Song of Harmonics) produced by the National Center for Scientific Research-Audio Visual, Paris, 1989)
Contributor to the bilingual notes (188pages) accompanying the 3CD set "Voices of the World" edited by Le Chant du Monde, Paris, 1996
Contributor to the bilingual notes (124pages) accompanying the 2CD set "Vietnam: Musics of the Montagnards " edited by Le Chant du Monde, Paris, 1997.
Researcher specializing in Vietnamese Music, South East Asian Music, Overtone Singing Style, Music Therapy, Music Pedagogy, Creation of New Techniques for Vietnamese 16 stringed zither, Jew's Harps, Spoons.
Author of more than 500 articles in Vietnamese for 30 Vietnamese magazines in America, Europe, Asia and Australia.
Creative Works
 
Nho Mien Thuong Du (Nostalgia of the Highlands) for 16 stringed zither (1971)
 
Xuan Ve (The Spring Is Coming Back) for 16 stringed zither (1971)
 
Tieng Hat Song Huong (The Song of the Perfumed River) for monochord (1972)
 
Ao Thanh (The Magic Sound) for Spoons (1972)
 
Ve Nguon (Return to the Sources) with Nguyen Van Tuong, (1975)
 
Tieng Hat Song Huong (The Song of the Perfumed River) for the monochord (1980)
 
Shaman for Voice, saxo, synthetizer (1982)
 
Hat Hai Giong (Diphonic Song) (1982)
 
Ca Doi Ca (Song vs Song) for overtones (1982)
 
Tuy Hung Muong (Improvisation of Spoons) for Spoons (1982)
 
Doc Tau Dan Moi Mong (Solo of Mong Jew's Harp) for Jew's Harp (1982)
 
Tieng Hat Dan Moi Tre (The Song of the Bamboo Jew's Harp) for Jew's Harp (1982)
 
Sinh Tien Nhip Tau (Rhythm of Coin Clappers) for Coin Clappers (1982)
 
Tiet Tau Mien Thuong (Rhythm of the Highlands) for 2 Jew's Harps (1982)
 
Nui Ngu Sơng Huong (Royal Mount and Perfumed River) for monochord (1983)
 
Nam Bac Mot Nha ( North and South, the Same House) for 16 stringed zither(1986)
 
Chuyen He (Modulation) (1986)
 
Tro Ve Nguon Coi (Return to the Origin) (electro-acoustical music) (1988)
 
Solo Thai for 16 stringed zither (1989)
 
Tambours 89 in cooperation with Yves Herwan Chotard (1989)
 
Envol for overtones (1989)
 
Chuyen He Ba Mien (Metabole on three regions) for 16 stringed zither (1993)
 
Mong Den Vung Viet Bac (Dream of Viet Bac) for 16 stringed zither (1993)
 
Vinh Ha Long ( Ha Long Bay) for 16 stringed zither (1993)
 
Song Huong Nui Ngu (The Perfumed River and the Royal Mount) for 16 stringed zither (1993)
 
Tieng Vang Dan Trung Tay Nguyen (Echo of the musical instrument Trung of the Highlands) for 16 stringed zither (1993)
 
Nho Mien Nam (Nostalgia of the South) for 16 stringed zither (1993)
 
Saigon-Cholon (Saigon-Cholon The Twin Cities) for 16 stringed zither (1993)
 
Vinh Long Thoi Tho Au (Vinh Long, My Childhood) for 16 stringed zither (1993)
 
Cuu Long Giang  Than Yeu (the Beloved Mekong River) for 16 stringed zither(1993)
 
Hon Viet Nam (The Soul of Viet Nam) for 16 stringed zither (1993)
 
A Bali, on entend le genggong rab ncas (In Bali, one hears the jew's harp genggong) for Jew's Harp (1997)
 
Paysage des Hauts-Plateaux (Landscape of the Highlands) for Jew's Harp (1997)
 
Nostalgie au Pays Mong ( Nostalgia of the Mong Land) for Jew's Harp (1997)
 
Souvenir à Alexeiev et Chichiguine (Souvenir of Alexeiev and Chichiguine) for Jew's Harp (1997)
 
Bachkir-Bachkirie (Bashkir-Bashkiria) for Jew's Harp (1997)
 
Orient-Occident (East-West) for Jew's Harp (1997)
 
Souvenir de Norvege (Souvenir from Norway) for Jew's Harp (1997)
 
Vietnam, mon Pays (Vietnam, my Country) for Jew's Harp (1997)
 
Tuva! Tuva! (Tuva! Tuva!) for Jew's Harp (1997)
 
La Mélodie des Harmoniques (The melody of Harmonics) for Jew's Harp (1997)
 
Ambiance des Hauts-Plateaux du Vietnam (Atmosphere of the Highlands of Vietnam) for Jew's Harp (1997)
 
Echo des montagnes (Echo of Mountains) for Jew's Harp (1997)
 
Taiga mysterieux (Mysterious Taiga) for Jew's Harp (1997)
 
Le Saut des Crapauds (The Jump of Toads) for Jew's Harp (1997)
 
Harmonie des Guimbardes (Harmonie of Jew's Harps) for Jew's Harp (1997)
 
L'Univers harmonique (The Harmonic Universe) for Jew's Harp (1997)
 
Consonances ! (Consonances !) for Jew's Harp (1997).
Film music for the film Long Vân Khanh Hơi (The Meeting of the Dragon and the Clouds) 1980.
Film music for the film Le Chant des Harmoniques (The Song of Harmonics), 1989.
Film music for the film La Rencontre du Dragon et du Coq (The Meeting of the Dragon and the Cock) (1997)

 

 

 

•• Âm nhạc cổ truyền

•• Nhạc mới

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•••• Nghệ sĩ từ trần

•• Nghiên cứu gia VN

•• Nhạc thiểu số

•• Tiểu sử ca sĩ

•• CA TRU

•• HÁT XẨM & TRỐNG QUÂN

•• Nhạc Hàn Quốc

•• Nhạc Nhựt Bổn

•• Nhạc Trung quốc

•• Nhạc Đông Nam Á

•• Nhạc Mông Cổ

•• Nhạc sắc tộc

•• Nhạc Tuva

•• song thanh tác giả khác

•• song thanh TQH

•• Giọng trị bịnh

•••• Chakra - Yoga

•• Ca sĩ Khoomei

•• Nghiên cứu gia Khoomei

•• Âm thanh học

•• Ngôn ngữ khác

•• Đàn Mội Hmông

•• Tiêm ban sach và nhac cu

•• Tiểu sử dân tộc nhạc học gia

•• Trang nhà dân tôc nhac hoc

•• Phân mêm : Phân tach bôi âm

•• Muông

•• Tran Quang Hai

•• Nhac si Viêt Nam

•• Hat dông song thanh

•• Bach Yên

•• VIDEO/CD trên WEB

•• Nhạc Việt cổ truyền

•• Đàn Môi

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•• Tiểu sử

•• Phỏng vấn báo, radio

•• Bài viết

Visitors: 4828905