Music news from a Vietnamese traditional musician

Category » Tiểu sử nhạc sĩ

Phạm Duy/Hành Trình âm nhạc

LTS :Được sự đồng ý của nhạc sĩ Phạm Duy, GĐX sẽ lần lượt giới thiệu một số bài viết tư liệu do chính nhạc sĩ sưu tập nhằm giúp công chúng yêu nhạc có được một cái nhìn khái quát về hành trình âm nhạc của một trong những cây đại thụ hiếm hoi của nhạc Việt...

Nhạc Phạm Duy
Bảng xếp loại

*
Vì chủ trương dùng nhạc để điều hợp con người và xã hội, nhạc Phạm Duy là ba loại nhạc bổ xung cho nhau :
1. Nhạc xã hội là nhạc nối liền con người vào xã hội.
2. Nhạc tình cảm là nhạc giao tình giữa con người và con người.
3. Nhạc tâm linh dẫn con người vào cõi tâm...

 

Hành trình âm nhạc Phạm Duy

08:23' 20/11/2006 (GMT+7)

 

 

Soạn: HA 961269 gửi đến 996 để nhận ảnh này
NS Phạm Duy trong ngày trở về

I.- Nhạc Xã Hội

Kháng Chiến Ca (Hành Khúc) :
Nhạc Tuổi Xanh - Xuất Quân - Gươm Tráng Sĩ - Chiến Sĩ Vô Danh - Nợ Xương Máu - Thu Chiến Trường - Về Đồng Quê - Đường Về Quê - Thanh Niên Ca – Thanh Niên Quyết Tiến - Khởi Hành – Việt Bắc - Bông Lau Rừng Xanh Pha Máu - Rừng Lạng Sơn – Thiếu Sinh Quân – Quân Y Ca – Dân Quân Du Kích – Một Viên Đạn Là Một Quân Thù - Đoàn Quân Văn Hóa – Đường Ra Biên Ải – Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà…

Kháng Chiến Ca (Dân Ca) :
Chinh Phụ Ca - Nhớ Người Thương Binh - Mùa Đông Chiến Sĩ - Dặn Dò - Ru Con - Nhớ Người Ra Đi - Người Lính Bên Tê - Nương Chiều - Về Miền Trung - Quê Nghèo - Gánh Lúa - Tiếng Hát Trên Sông Lô - Bà Mẹ Gio Linh - Người Về - Ngày Trở Về...

Tình Ca Quê Hương - Tình Tự Dân Tộc : Tình Ca - Tình Hoài Hương - Thuyền Viễn Xứ - Bà Mẹ Quê - Em Bé Quê - Vợ Chồng Quê - Nụ Tầm Xuân - Tình Nghèo - Đố Ai – Hò Lơ…
Đoản Ca Xã Hội : Tiếng Bước Trên Đường Khuya - Phố Buồn…

Chương Khúc
Mười bài Tâm Ca : Tôi Ước Mơ, Tiếng Hát To, Ngồi Gần Nhau, Giọt Mưa Trên Lá, Để Lại Cho Em, Một Cành Củi Khô, Kẻ Thù Ta, Ru Người Hấp Hối, Tôi Bảo Tôi Mãi Mà Tôi Không Nghe, Hát Với Tôi…

Tâm Phẫn Ca : Tôi Không Phải Là Gỗ Đá, Nhân Danh, Bi Hài Kịch, Người Lính Trẻ, Chuyện Hai Người Lính, Đi Vào Quê Hương, Bà Mẹ Phù Sa...

Mười bài Bình Ca : Bình Ca Một - Sống Sót Trở Về - Dường Như Là Hoà Bình - Xin Tình Yêu Giáng Sinh - Xuân Hiền - Ru Mẹ - Lời Chào Bình Yên - Giã Từ Ác Mộng - Chúa Hoà Bình - Ngày Sẽ Tới…

Mười bài Bé Ca :
Ông Trăng Xuống Chơi - Chú Bé Bắt Được Con Công - Thằng Bợm - Bé Bắt Dế - Đốt Lá Trên Sân - Đưa Bé Đến Trường - Bé, Ngôi Nhà Xanh, Đồi Cỏ - Dã Ca Ngày Mùa...
Mười bài Nữ Ca : Tuổi Mộng Mơ - Tuổi Ngọc -Tuổi Hồng - Tuổi Thần Tiên - Tuổi Sợ Ma - Tuổi Xuân - Tuổi Vu Vơ - Tuổi Bâng Khuâng - Tuổi Biết Buồn - Ngày Em Hai Mươi Tuổi…
Mười bài Vỉa Hè Ca, Tục Ca : Sức Mấy Mà Buồn - Nghèo Mà Không Ham v.v…

Tị Nạn Ca : Nguyên Vẹn Hình Hài, Hát Trên Đường Tạm Dung, Hát Cho Người Vượt Biển, Ta Là Gió Muôn Phương, Người Con Gái Việt Rời Xa Tổ Quốc, Thư Em Đến (theo thơ Cao Tần), Nhiệm Mầu Thay Phép Lạ Hoá Công, Những Mùa Đông Dĩ Vãng (theo thơ Hà Huyền Chi), Tiếng Thời Xưa , Dấu Chân Trên Tuyết, Nếu Anh Về,
Bên Bờ Sông Seine Ta Ngồi Ta Khóc, Chỉ Còn Nhau, Con Dế Hát Rong, Nghìn Năm Vẫn Không Quên, Mai Mốt Ông Về (theo thơ Cao Tần), Tình Thu, Thương Nhớ Saigon, Giải Thoát Cho Em, Xin Em Giữ Dùm Anh, Như Là Lòng Tôi, Rồi Đây Anh Sẽ Đưa Em Về Nhà....
Hoàng Cầm Ca : Tình Cầm, Qua Vuờn Ổi, Lá Diêu Bông, Cỗ Bài Tam Cúc, Đạo Lùi Tinh Tú, Trăm Năm Như Một Chiều…

Trường Ca
Con Đường Cái Quan : Anh Đi Trên Đường Cái Quan, Tôi Đi Từ Ải Nam Quan, Đồng Đăng Có Phố Kỳ Lừa, Người Về Miền Xuôi, Này Người ƠI, Tôi Đi Từ Lúc Trăng Tơ, Ai Đi Trong Gió Trong Sương, Ai Vô Xứ Huế Thì Vô, Ai Đi Trên Dặm Đường Trường, Nước Non Ngàn Dặm Ra Đi, Gió Đưa Cành Trúc La Đà, Tôi Xa Quê Nghèo Ruộng Nghèo, Anh Đi Đường Vắng Đường Xa, Nhờ Gió Đưa Về, Đi Đâu Cho Thiếp Theo Cùng, Đèn Cao Châu Đốc Gió Độc Gò Công, Cửu Long Giang và Về Miền Nam, Giã Ơn Cái Cối Cái Chầy và Về Miền Nam, Đường Đi Đã Tới.

Mẹ Việt Nam : Mẹ Ta, Mẹ Xinh Đẹp, Mẹ Chờ Mong, Lúa Mẹ, Mẹ Đón Cha Về, Mẹ Hỏi, Mẹ Bỏ Cuộc Chơi, Mẹ Trong Lòng Người Đi, Mẹ Trả Lời, Mẹ Hoá Đá, Muốn Về Quê Mẹ, Sông Còn Mải Mê, Sông Vùi Chôn Mẹ, Sông Không Đường Về, Những Dòng Sông Chia Rẽ, Mẹ Trùng Dương, Biển Đông Sóng Gợn, Thênh Thang Thuyền Về, Chớp Bể Mưa Nguồn, Phù Sa Lớp Lớp Mây Trời Cuộn Bay, Mẹ Việt Nam Ơi, Việt Nam Việt Nam.

Bầy Chim Bỏ Xứ, Hồi Xứ : Bầy Chim Buồn Bã, Chim Quyên Từ Độ Bỏ Thôn Đoài, Con Chích Choè Và Con Chào Mào, Chim Bay Từ Đồng Lúa Phương Nam, Một Đôi Phượng Quý, Trên Cành Vàng Con Hoàng Khuyên, Bầy Chim Biệt Xứ, Én Bay Thấp Én Bay Cao Bầy Chim Một Nhà, Lên Rừng Già Ba Mươi Sáu Thứ Chim, Bầy Chim Một Tổ, Bầy Chim Huyền Sử, Chim Quyên Về Đậu Ở Thôn Đoài...

Ca Hát Bốn Mùa
Xuân Ca : Xuân Thì - Xuân Nồng - Du Ca Mùa Xuân - Trên Đồi Xuân - Xuân Hiền – Xuân Ca…
Hạ Ca : Cỏ Hồng - Gió Thoảng Đêm Hè - Ngày Tháng Hạ - Hạ Hồng…

Thu Ca : Thu Ca Điệu Ru Đơn - Tiếng Thu - Tình Thu – Mùa Thu
Paris - Tình Ca Mùa Thu - Kiếp Sau, Về Đây…
Đông Ca : Chiều Đông – Tiễn Em - Bên Ni Bên Nớ,..

II.- Nhạc Tình

Tình Ca Ấp Úng : Cô Hái Mơ (theo thơ Nguyễn Bính), Cây Đàn Bỏ Quên, Khối Tình Trương Chi.
Tình Ca Học Trò : Tôi Đang Mơ Giấc Mộng Dài, Ngày Xưa Hoàng Thị (theo thơ Phạm Thiên Thư), Tóc Mai Sợi Vắn Sợi Dài, Con Đường Tình Ta Đi, Trả Lại Em Yêu.

Tình Ca Giang Hồ : Tình Kỹ Nữ, Tiếng Đàn Tôi, Bên Cầu Biên Giới.
Tình Ca Đôi Lứa : Đêm Xuân, Thương Tình Ca, Tìm Nhau, Cho Nhau, Kiếp Nào Có Yêu Nhau (theo thơ Hoài Trinh), Ngày Đó Chúng Mình, Đừng Xa Nhau, Nếu Một Mai Em Sẽ Qua Đời, Mưa Rơi, Phượng Yêu, Đường Em Đi.
Tình Ca Một Mình : Còn Gì Nữa Đâu, Nghìn Trùng Xa Cách, Nha Trang Ngày Về, Giết Người Trong Mộng, Mùa Thu Chết (theo thơ Apollinaire), Thu Ca Điệu Ru Đơn (theo thơ Verlaine).
Tình Ca Quê Mùa : Nụ Tầm Xuân, Thương Ai Nhớ Ai, Đố Ai, Bài Ca Sao, Bài Ca Trăng.
Tình Ca Tuổi Trẻ (theo một số bài thơ của Nguyễn Tất Nhiên) : Thà Là Giọt Mưa, Cô Bắc Kỳ Nho Nhỏ, Em Hiền Như Ma Soeur, Anh Vái Trời, Hãy Yêu Chàng, Hai Năm Tình Lận Đận.
Tình Ca Mầu Thiền (theo một số bài thơ của Phạm Thiên Thư) : Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng, Gọi Em Là Đóa Hoa Sầu, Em Lễ Chùa Này, Huyền Thoại Trên Một Vùng Biển.
Tình Ca Lỡ Làng : Tình Hờ, Yêu Tinh Tình Nữ, Ta Yêu Em Lầm Lỡ (theo thơ Đào Văn Trương), Những Cuộc Tình Tan Vỡ, Chỉ Chừng Đó Thôi, Yêu Là Chết Ở Trong Lòng, Nỗi Buồn Có Tên, Anh Yêu Em Vào Cõi Chết (theo thơ Nguyễn Long).
Tình Thi Nhân
* (theo một số bài thơ của các thi nhân tiền chiến) : Ngậm Ngùi (Huy Cận), Mộ Khúc (Xuân Diệu), Tiếng Sáo Thiên Thai (Thế Lữ) Vần Thơ Sầu Rụng, Thú Đau Thương, Hoa Rụng Ven Sông, Tiếng Thu (Lưu Trọng Lư), Tỳ Bà (Bích Khê).
* (theo một số bài thơ của các thi nhân đương thời) : Tâm Sự Gửi Về Đâu (Lê Minh Ngọc), Mùa Xuân Yêu Em (Đỗ Qúy Toàn), Đừng Bỏ Em Một Mình (Hoài Trinh), Con Qùy Lạy Chúa Trên Trời (theo thơ Nhất Tuấn), Ở Rừng U Minh Ta Không Thấy Em (Nguyễn Tiến Cung), Còn Chút Gì Để Nhớ (Vũ Hữu Định), Nụ Hôn Đầu (Trần Dạ Từ).
Truyện Tình : Cành Hoa Trắng, Hẹn Hò, Quán Bên Đường (theo thơ Trang Tuyết Sĩ), Chuyện Tình Buồn (theo thơ Phạm Văn Bình).
Nhục Tình Ca : Tình Tự Ca, Nhục Tình Ca, Đêm Hôm Đó, Người Tình Trong Cánh Tay, Tình Vẫn Rong Chơi

III.- Nhạc Tâm Linh

Ca Khúc Siêu Nhiên : Chiều Về Trên Sông - Dạ Lại Hương - Viễn Du - Lữ Hành - Xuân Hành - Tìm Nhau - Nước Mắt Rơi - Một Bàn Tay - Mộng Du - Những Bàn Chân - Đường Chiều Lá Rụng - Dạ Hành - Một Ngày Một Đời - Tạ Ơn Đời…
Muời Bài Đạo Ca : (theo thơ Phạm Thiên Thư) : Pháp Thân, Đại Nguyện, Chàng Dũng Sĩ Và Con Ngựa Vàng, Quán Thế Âm, Môt Cành Mai, Lời Ru Bú Mớm Nâng Niu, Qua Suối Mây Hồng, Giọt Chuông Cam Lộ, Chắp Tay Hoa, Tâm Xuân.
Muời Bài Thiền Ca : Thinh Không, Võng, Thế Thôi, Không Tên, Xuân, Chiều, Người Tình, Răn, Thiên Đường Địa Ngục, Nhân Quả.
Muời Bài Rong Ca : Người Tình Già Trên Đầu Non, Hẹn Em Năm 2000, Mẹ Năm 2000, Mộ Phần Thế Kỷ, Ngụ Ngôn Mùa Xuân, Nắng Chiều Rực Rỡ, Bài Hát Nghìn Thu, Trăng Già, Ngựa Hồng, Rong Khúc.
Trường Ca Hàn Mặc Tử : Tình Quê, Đây Thôn Vỹ Dạ, Dalat Trăng Mờ, Trăng Sao Rớt Rụng, Trút Linh Hồn, Lạy Bà Là Đấng Tinh Truyền Thánh Vẹn, Ôi Sứ Thần Thiên Chúa Gabriel, Phượng Trì Ôi Phượng Trì.

Tiểu Nhạc Cảnh

Chức Nữ Về Trời
Tấm Cám
Thằng Bờm
Người Đẹp Trong Tranh
Thị Mầu Lên Chùa
Trên Đồi Xuân
Chum Vàng
Mài Dao Dạy Vợ
Chuyện Tình Sơn Nữ

Đại Nhạc Cảnh

MINH HỌA TRUYỆN KIỀU
Phần I : Rằng Năm GiaTĩnh Triều Minh - Ngày Xuân Con Én Đưa Thoi - Thanh Minh Trong Tiết Tháng Ba - Ngổn Ngang Gò Đống Kéo Lên - Sè Sè Nấm Đất Bên Đường - Đau Đớn Thay Phận Đàn Bà - Một Vùng Cỏ Áy Ác Tà - Dễ Hay Tình Lại Gặp Tình - Gốc Cây Lại Vạch Một Bài Cổ Thi - Dùng Dằng Nửa Ở Nửa Về - Chàng Vương Quen Mặt Ra Chào - Tình Trong Như Đã Mặt Ngoài Còn E…
Phần II : Người Đâu Gặp Gỡ Làm Chi - Lơ Thơ Tơ Liễu - Một Buổi Êm Trời - Biết Đâu Hợp Phố - Đá Biết Tuổi Vàng - Hán Sở Tranh Hùng – Tư Mã Phượng Cầu - Kê Khang Và Khúc Quảng Lăng - Chiêu Quân - Càng Tỏ Hương Nồng - Trăng Thề Còn Đó…
Phần III : Bán Mình Chuộc Tội – Tấm Lòng Con – Đã Bén Tay Phàm – Tú Bà – Lầu Ngưng Bích…

Phố Tịnh
Hành trình âm nhạc Phạm Duy

Soạn: HA 961281 gửi đến 996 để nhận ảnh này
 

Phạm Duy đã hát một đời qua bao nhiêu thăng trầm của cuộc sống, từ thời nhạc tuổi xanh ngạo nghễ hào khí của kháng chiến đến tiếng hát thanh thoát trên đường về cõi vô cùng, từ tiếng hát vững chãi khẳng định dáng đứng Việt Nam đến tiếng hát sâu lắng của cõi tâm, từ tiếng hát về niềm yêu thương bao la của mẹ đến tiếng hát phẫn nộ, tiếng hát về những bi kịch của đời người, hay lời hạnh phúc của những người yêu nhau. Cuộc đời sáng tác của ông cũng rất dài, bao trùm qua nhiều thế hệ. Trong vòng 60 năm góp mặt, Phạm Duy đã hát về rất nhiều đề tài, phản ảnh những tâm cảnh khác nhau của một người Việt Nam trước cuộc sống đa dạng: lắm vinh quang nhưng cũng rất nhiều khổ nhục.

Bài hát đầu tiên của ông là một bài thơ phổ nhạc: Cô Hái Mơ (1942) cách nay đúng 60 năm. Ca khúc này ra đời trong buổi bình minh của nhạc cải cách, sau này gọi là tân nhạc. Dù không phải là người sáng tác ca khúc tân nhạc đầu tiên, ông vẫn nghiễm nhiên là một trong số những nhạc sĩ tiền phong của phong trào tân nhạc trong buổi đầu. Trong suốt sáu mươi năm sáng tác, Phạm Duy đã đem đến cho công chúng Việt Nam ngàn lời ca, đã làm rung động nhiều thế hệ. Có thể nói là trong sáu mươi năm qua, không thế hệ người Việt nào là không nợ Phạm Duy một món nợ tình cảm là được lưu dấu xúc cảm của riêng mình trong ít nhất là một khúc hát của ông.

Phạm Duy có một đức tính ít thấy ở người nghệ sĩ: óc tổ chức. Từ khoảng hơn mười năm trở lại đây, ông đã tự mình đi sưu tầm tài liệu trong các văn khố hay trong trí nhớ của người xung quanh để sưu tập và sắp xếp phân loại lại toàn bộ các sáng tác của mình. Kết quả của công trình nói trên là các tập Hồi Ký 1, 2 và 3, tập Ngàn Lời Ca (Midway City: PDC Musical Productions, 1987), công trình CD-Rom Hành Trình Trên Đất Mẹ (1992), và nhất là trang nhà của chính ông trên mạng lưới thông tin toàn cầu (Web) mang tên : Ngàn Cánh Nhạc (tức là Phạm Duy Anthology). Nhờ những công trình đó mà công chúng thưởng ngoạn hôm nay có thể tìm biết và nghe nhạc Phạm Duy không khó lắm.

Trong công trình Phạm Duy Anthology (Ngàn Cánh Nhạc), ông căn cứ theo thứ tự thời gian và đề tài để phân loại các mảng bài hát theo thứ tự ra đời của chúng. Ông tự chia tác phẩm mình ra thành thanh niên ca, dân ca, kháng chiến ca, quân ca, trường ca, tâm ca, tục ca, vỉa hè ca, bình ca, nữ ca, bé ca, đạo ca, tị nạn ca, ngục ca, hoàng cầm ca, rong ca, thiền ca. Và dĩ nhiên là không thể thiếu tình ca được.

Kể cũng khó có thể dùng bảng phân loại này để thu tóm đủ các khuôn dáng một sự nghiệp đồ sộ như vậy. Chẳng hạn, tâm ca, đạo ca và rong ca rất gần nhau về tính cách, vì chúng đều nhằm diễn đạt khía cạnh những suy nghiệm nội tâm, những cảm thức tâm linh; về mặt nào đó ba mảng sáng tác này khá gần gũi nhau và do vậy có thể xếp vào một nhóm.

Một trường hợp khác: loạt ca khúc Tị nạn ca và Ngục ca, Hoàng Cầm ca dù khác nhau rất xa về chủ đề nội dung, nhưng lại có thể quy về một nhóm sáng tác phản ánh thời thế, hiện thực xã hội.

Trước hết, hãy dạo qua một lượt Phạm Duy Anthology để thấy sức sáng tác liên tục và bền bỉ của ông. Hành trình sáu mươi năm âm nhạc Phạm Duy đã dàn trải qua nhiều chặng đường, với những thành tựu về tác phẩm khác nhau. Sáng tác của Phạm Duy thật phong phú đa dạng biết là chừng nào, từ đề tài đến thể loại. Trong suốt hơn sáu mươi năm tân nhạc, các nhạc sĩ khác thường chỉ nổi bật qua một số đề tài nào đó, phổ biến nhất là dề tài tình yêu. Thể loại sáng tác chỉ là những ca khúc. Nghe nhạc Phạm Duy có thể nhận thấy đề tài ca khúc của ông dàn trải rất rộng. Hiện thực cuộc sống Việt Nam trong mấy chục năm qua được phản chiếu qua tác phẩm của ông. Cho đến nay vẫn chưa có một bảng tổng kê các chủ đề lớn trong nhạc phẩm Phạm Duy. Ngay đến một đề tài quen thuộc của ca khúc tân nhạc, nhạc tình, cũng có thể nhận ra những sắc màu phong phú của nhạc tình Phạm Duy. Trong một thiên biên khảo về lịch sử tân nhạc Việt Nam, Phạm Duy cho rằng nhạc tình có nhiều dạng: nhạc tình cảm tính (romantique), nhạc tình não tính (célébral), nhạc tình ảo tính (psychedélique), nhạc tình dục tính (sensuel). Các bản tình ca của tân nhạc chúng ta trước nay thường không ra ngoài chất nhạc tình cảm tính. Hoạ chăng có nhạc tình Trịnh Công Sơn và Lê Uyên Phương có thể thêm vào danh mục những bản tình ca phong phú sắc màu như bảng phân loại của Phạm Duy mà thôi. Có lẽ chỉ trong nhạc tình Phạm Duy mới thấy đủ dáng vẻ của những bản tình ca theo như cách phân loại của ông.

Một nét đặc biệt nữa của nhạc Phạm Duy là nó phản ảnh sống động những tâm cảnh của ông và của mọi người Việt Nam chúng ta trước cuộc sống. Phạm Duy không chỉ hát về những cuộc tình, mà ông còn hát về những bà mẹ, về quê hương đất nước yêu dấu (mà về cuối đời ông xem là những lời hát xưng tụng quê hương thần thánh kia chỉ là những lời ca ảo tưởng về một quê hương không thật), về những vui buồn của những con người quanh ông trong một thời đất nước rất tan lìa. Ông hát khi một sớm mai thức dậy nghe tin người thân ngã gục ngoài chiến trường, ông hát cùng những em bé, những cụ già vất vưởng trên đường quê, ông hát về tâm tình của một người quả phụ chiến tranh, về một chiếc lá trong mưa, về hai người lính trẻ, về những chuyến đi xa đầy ngậm ngùi về thân phận nhược tiểu… Hiện thực Việt Nam sẽ hiện ra ngồn ngộn trong ca khúc Việt Nam qua dọc dài những sáng tác của Phạm Duy. Rồi đây cũng cần những cố gắng hệ thống hoá những đề tài trong nhạc phẩm Phạm Duy để nhận ra những tâm cảnh Việt Nam qua những tiếng hát đó.

Trên đây là nói về đề tài. Đến thể loại sáng tác cũng là một nét đặc sắc của sự nghiệp âm nhạc Phạm Duy. Từ ngày thành lập hơn 60 năm trước, tân nhạc Việt Nam cho đến nay vẫn còn đang chuộng hình thức thể loại ca khúc. Những bài hát từ thời tiền chiến đến thời hậu chiến, rồi thời nhạc nhẹ hiện nay đều dựa vào thể loại ca khúc là hình thức sáng tác cho nó. Đó là một khúc hát gồm có một hoặc nhiều phiên khúc và một điệp khúc. Phạm Duy là một trong những người tiên phong tìm tòi thể nghiệm về mặt thể loại cho ca khúc tân nhạc. Ông làm khá nhiều trường ca, xem như là một hình thức thể loại mới và công phu hơn thể ca khúc rất nhiều. Trước ông có Lê Thương (Hòn Vọng Phu) và sau ông có Phạm Đình Chương (Hội Trùng Dương) đã thể nghiệm thể loại trường ca. Mặc dù đã ý thức về đoạn mạch, bố cục và tính nhất quán về ngôn ngữ nhạc, các trường ca vừa kể đều là tập hợp của ba ca khúc có đoạn mạch khá đồng dạng, xem như những khung âm thanh để chuyển tải những lời hát kể chuyện mà thôi.

Đến Phạm Duy thì thể nghiệm thể loại đã nâng cấp một bước dài. Từ những đoản khúc dân ca mới, rồi dân ca phát triển mà bố cục không vượt quá xa cấu trúc những bài dân ca truyền thống, Phạm Duy đã đẩy những ca khúc phát triển từ dân ca lên thành những tổ khúc nhiều chương đoạn kết với nhau thành một chỉnh thể những biến tấu theo quy tắc kí âm phương tây nhưng vẫn đậm nét nhạc dân tộc.

Trường ca Con Đường Cái Quan (1960) và trường ca Mẹ Việt Nam (1964) là những thành tựu về thể loại này. Sau này, hình thức tổ khúc (mà ông gọi là trường ca) lại thêm màu sắc của kịch như trường hợp tổ khúc Bầy Chim Bỏ Xứ (1990) và Minh Hoạ Kiều I (1997) và Minh Hoạ Kiều II (2002). Đây là những tìm tòi rất có ý nghĩa về mặt thể loại không ai có thể phủ nhận.

Cũng trong sự tìm tòi về mặt thể loại, có lẽ cũng chính Phạm Duy là người mở đường cho hình thức những tập hợp nhiều ca khúc xoay quanh một chủ đề để làm những tập ca khúc đầu tiên tại Sài Gòn vào những năm 1960. Chúng tôi muốn nhắc đến tập Mười Bài Tâm Ca (1965) như là một khai phá đầu tiên của ông về mặt thể loại tập ca khúc. Những thể nghiệm nghệ thuật bạo dạn như Phạm Duy đã và đang làm, không thấy có nhiều trong sinh hoạt nhạc Việt hôm nay.

Cũng qua trường hợp Phạm Duy, chúng ta có thể thấy là tân nhạc Việt Nam hiện đang có những tìm tòi thể loại để phát triển nó trong tinh thần Việt Nam. Thể loại ca khúc khi du nhập Việt Nam đã và đang thoát hình để hội nhập trong dòng nhạc nước nhà. Những tìm tòi khai phá về thể loại mà Phạm Duy và những người cùng thời đã nói lên khát vọng sáng tạo tân nhạc trên cơ sở dân tộc-hiện đại.

Hành trình sáu mươi năm của nhạc Phạm Duy như thế là một hành trình dài, đa dạng và phong phú. Hôm nay, nhìn lại hành trình âm nhạc của ông, tôi hình dung hành trình âm nhạc Phạm Duy đã trải qua ba chặng lớn, từ một thời hồng của tuổi thanh niên sang thời tuổi vàng là thời sung mãn nhất của một đời người, và hiện nay ông đã bước qua thời xanh, khi tuổi đã già nhưng tiếng hát vẫn còn nguyên sức trẻ của sáng tạo.

I.- Thời Hồng
Xưng tụng quê hương huyền thoại
(1942-1964)

Phạm Duy khởi đầu sự nghiệp âm nhạc của mình bằng công việc ca hát trên sân khấu ca nhạc. Năm 1941, ông bắt đầu hát trên sân khấu Đức Huy-Charlot Miều. Trong không khí hứng khởi của buổi đầu tân nhạc, ông bắt đầu sáng tác một bản nhạc tình phổ từ một bài thơ mới. Đó là bài Cô hái mơ. Một số bài sau đó là những bài hát mang khí vị cổ điển từ tựa đề bài hát cho đến nội dung. Đó là những bài Gươm tráng sĩ, Chinh phụ ca. Phong vị cổ điển này sẽ còn in dấu trong các sáng tác về sau, khi ông tham gia kháng chiến chống Pháp. Những bản nhạc tình như Cây đàn bỏ quên (1945), Khối tình Trương Chi (1945), Tình kỹ nữ (1946) đều phảng phất không khí cổ điển như thế.

Đi kháng chiến, ông được bắt rễ trở lại với dân dã, gần gũi quần chúng. Tác phẩm của ông dần dà đã định hình khuynh hướng rất nhất quán suốt thời gian sáng tác sung sức nhất của ông trong vùng kháng chiến. Phạm Duy đã xác định con đường sáng tác của mình: dựa trên cơ sở dân ca mà phát triển lên thành ngôn ngữ nhạc mới cho mình. Một loạt những bài dân ca kháng chiến và những bài khác đều mang một phong cách chung: trở về với chất liệu dân ca để nâng lên thành thẩm thức mới cho thời hiện đại. Những bài dân ca mới hay có khi còn gọi là dân ca kháng chiến trong giai đoạn này đã mở đường cho một loạt những thành tựu mới -- những bài dân ca phát triển -- khi ông vào Sài Gòn (1951). Có thể nói là những năm tham gia kháng chiến đã giúp hình thành khuynh hướng và quan điểm sáng tác rất nhất quán của Phạm Duy trong những năm về sau này. Đó là sáng tác những tác phẩm ca khúc dựa trên cơ sở điệu thức ngũ cung của âm nhạc truyền thống, nhưng vẫn mang tâm tình của thời hiện đại. Từ đây nhạc Phạm Duy được bay bổng. Thập niên 50 và 60 là giai đoạn của những sáng tác rất điển hình cho chiều sâu xúc cảm của người nghệ sĩ sáng tác trong thời kì này. Cao điểm của thời kì này là hai trường ca Con Đường Cái Quan (1960) và Mẹ Việt Nam (1964).

II.- Thời Vàng
Hát về hiện thực quê hương hôm nay
(1965-1988)

Năm 1964 đánh dấu một chuyển hướng trong sáng tác của Phạm Duy. Sau khi trường ca Mẹ Việt Nam ra đời, ông ôm đàn đi đến các tụ điểm học sinh sinh viên để hát về Mẹ Việt Nam. Có lẽ qua những chuyến đi này, ông có dịp nhìn lại khoảng cách giữa tác phẩm của ông và hiện thực cuộc sống chung quanh vào những năm tháng ấy. Năm 1964 là thời gian miền Nam đang trải qua những biến động chính trị, cộng thêm với sự leo thang của chiến tranh, đã dẫn đến những khủng hoảng xã hội. Văn học nghệ thuật đã tự làm những cuộc tự vấn lương tâm qua những diễn đàn như tập san Giữ Thơm Quê Mẹ (1963), Hành Trình (1964), tập san Thái Độ (1965), rồi tạp chí Đất Nước (1966)… Không khí học thuật lúc bấy giờ đã tác động mạnh đến các sinh hoạt văn nghệ giai đoạn này. Đầu năm 1965, Phạm Duy ra mắt những bài Tâm Ca. Đấy là một bước chuyển hướng quan trọng trong sáng tác ca khúc, không những của riêng ông mà còn cả những người sáng tác trẻ ở thế hệ sau, như Nguyễn Đức Quang, Trịnh Công Sơn… Trước đó, hầu như các nhạc phẩm phổ biến ở Sài Gòn thường xoay quanh những đề tài vô thưởng vô phạt, những ca khúc không có thời gian tính. Trong khi đó ở ngoài Bắc thì ca khúc lại rất nhiều tính thời sự, nhưng là thứ thời sự được định hướng. Tâm ca ra đời là mở một hướng mới cho ca khúc xã hội: ca khúc phải là một bài hát phản ánh những tâm sự, những xúc động thật của người nhạc sĩ trước hiện thực chứ không phải là một ca khúc vượt thời gian - hiểu theo nghĩa là chẳng gắn bó với hiện thực xã hội đương thời. Đối với Phạm Duy thì từ những giai điệu mượt mà óng chuốt của trường ca Mẹ Việt Nam đến những bài tâm ca trần trụi, khô khốc và nhiều dằn vặt, là một khoảng cách quá lớn. Trước kia, trong thời tham gia kháng chiến, Phạm Duy cũng đã có những bài hát rung động lòng người vì tính cách hiện thực của chúng. Những bài dân ca kháng chiến hay những bài hát về Bà mẹ Gio Linh, về Thu chiến trường chẳng hạn là những bài hát về hiện thực hùng tráng của đất nước trong thời kháng chiến:
Mẹ già cuốc đất trồng khoai
Nuôi con đánh giặc đêm ngày
Cho dù áo rách sờn vai
Cơm ăn bát vơi bát đầy…
Nhà thì nó đốt còn đây
Khuyên nhau báo thù phen này
Mẹ mừng con giết nhiều Tây…
Ra công xới vun cầy cấy
Hò ơ ới hò ! Hò ơ ơi ới hò !...
(Bà mẹ Gio Linh-1948)

Hiện thực Việt Nam trong Mười bài tâm ca và những bài trong thời gian sau đó là một hiện thực khác, nhiều ray rứt, khắc khoải và chia lìa:
Sáng nay vừa thức dậy
Nghe tin em guc ngã ngoài chiến trường
Nhưng trong vườn tôi
Vô tình khóm tường vi
Vẫn nở thêm một đoá
Tôi vẫn sống! Tôi vẫn ăn ! Và tôi vẫn thở !...
Tôi vẫn sống ! Tôi vẫn ăn ! Và tôi vẫn thở !...
Nhưng biết bao giờ
Tôi mới được nói thẳng
Những điều tôi ước mơ ?
(Tâm ca số 1, Tôi ước mơ - 1965)

Một phần khá lớn những ca khúc Phạm Duy trong thời kì này là những bài hát về cuộc chiến đang leo thang dữ dội, về những hệ luỵ của chiến tranh đối với đời sống mỗi con người bình thường. Loạt ca khúc mang tên Tâm phẫn ca và Quê hương tồi tệ, Bình ca là những bài hát phản ánh những âu lo, buồn khổ cùng niềm vui của những con người đi qua cuộc chiến. Hẳn nhiên là Phạm Duy vẫn làm nhạc tình. Một nhà phê bình đã dí dỏm nhận xét về đôi mắt Phạm Duy : một con mắt đắm đuối lãng mạn, và một con mắt kia ráo hoảnh, tỉnh táo soi nhìn vào hiện thực. Giai điệu những bài tình ca của ông vẫn trữ tình, mượt mà như những bản tình ca trong khoảng thời gian những năm 1950 của thời kì trước. Nhưng dáng vẻ tình yêu trong một bài hát như Cỏ Hồng chẳng hạn vẫn mang tính cách thời đại của nó: khuôn mặt tình yêu trong một thời bất trắc dường như vẩn nhiều lo âu, như hối hả, như khắc khoải.

Trong thời kì này Phạm Duy có làm Mười bài Đạo Ca (1972). Ra đời trong thời gian này, tập đạo ca dường như lạc lõng trong diễn trình sáng tác của Phạm Duy, nhưng không phải vậy. Tập ca khúc này phản ảnh rất trung thực bối cảnh văn hoá miền Nam lúc đó: thời chiến tranh khốc liệt và nhiễu nhương cũng là thời kì xã hội đi tìm những điểm tựa. Miền Nam lúc ấy đang dấy lên phong trào văn học nghệ thuật Thiền đạo như một thời thượng văn hoá nhưng cũng là một sự cần thiết để góp phần hoá giải những đau khổ khắc khoải trong tâm thức văn nghệ sĩ và trí thức buổi ấy. Mười bài đạo ca phản ảnh tâm thức Phạm Duy trong những năm tháng ấy mà thôi.

Năm 1975 là một năm bản lề lớn trong đời Phạm Duy. Sau hơn 30 năm sáng tác trong lòng đất nước, nay ông lưu vong ra hải ngoại. Sau cơn chấn động tâm lí nặng nề, Phạm Duy cầm bút trở lại, và viết một loạt những bài hát thời thế mà sau này ông gộp chung trong loạt bài Tị nạn ca. Loạt bài hát này ít được phổ biến trong công chúng nghe nhạc, nhưng nó có chỗ đứng rất quan trọng trong toàn bộ sự nghiệp Phạm Duy. Một phần lớn những ca khúc trong nhóm này là những ca khúc đơn giản về khúc điệu, một nét phong cách của những ca khúc thời thế của ông, bắt đầu từ những bài ca thời kháng chiến đến những bài tâm ca. Nội dung những ca khúc là những khắc khoải của một người nghệ sĩ lưu vong lạc lõng giữa nơi xa lạ, và hoang mang trước viễn cảnh về tương lai. Những bài hát ra đời trong giai đoạn mười năm đầu tại Hoa Kì là những bài hát nói về những cảnh khổ của những gia đình bị chia cách, những oan khổ của con người vì chia li, thù hận. Ca khúc của Phạm Duy trong giai đoạn này đôi khi loé lên những lời phê phán gay gắt đối với thời thế, sự phẫn nộ đối với thân phận nghiệt ngã đè nặng lên những nạn nhân của một thời nhiễu nhương cùng cực.

Thời kì này sẽ kết thúc khi ông hoàn tất những nét nhạc cuối của tổ khúc Bầy Chim Bỏ Xứ (1985). Đây là một tác phẩm dài hơi, đã thai nghén từ khá lâu - từ những ngày cuối cùng của ông tại Sài Gòn (1975) - và đã kết tinh những khắc khoải cao nhất và sâu lắng nhất, và nó cũng phản ảnh cô đọng nhất những ước mơ của Phạm Duy về hiện thực Việt Nam đương đại. Nếu ngày trước, ông đã hát về đất nước hào hùng qua lịch sử (trong Con Đường Cái Quan), ông đã hát về Mẹ Tổ Quốc nhiều đau thương nhưng vẫn đại độ (trong Mẹ Việt Nam) thì bây giờ đây, trong Bầy Chim Bỏ Xứ, ông hát về những đau thương cùng tột của đất nước mà ông đang cùng sống với mọi người, ông hát về những hoài vọng cho tương lai khi đất nước hồi sinh.

Khi hoàn tất Bầy Chim Bỏ Xứ, Phạm Duy cũng bắt đầu bước vào một thời kì mới trong sự nghiệp sáng tác của ông.

III.- Thời xanh
Hát trên đường về cõi vô cùng
(1988-2002)

Năm 1988 đánh dấu sự ra đời của một tập ca khúc rất lạ, và có cái tựa rất dài : Mười bài Rong Ca nhan đề Người Tình Già Trên Đầu Non (Hát Cho Năm 2000). Mười bài rong ca có hai chủ đề chính:
* chủ đề thứ nhất là những bài hát mang tính cách tổng luận về những đổ vỡ, đau thương mà nhân loại đã phải trải qua trong suốt thế kỉ XX;
* chủ đề thứ nhì là những cảm nhận của người nghệ sĩ về tiếng gọi càn khôn.

Phải nói ngay là cả hai chủ đề trên không phải là mới lạ đối với Phạm Duy. Chủ đề thứ nhất là gì nếu không phải là những tiếng hát về hiện thực cuộc sống chung quanh ta ? Đấy là một chủ đề quen thuộc trong sáng tác Phạm Duy từ bao năm qua mà thôi. Có khác chăng là ở đây, hiện thực đã được lọc lại ở mức độ khái quát cao nhất.

Sang chủ đề thứ hai, thì phải nói là Phạm Duy cũng đã tiếp cận với nó từ rất sớm, ngay từ những năm kháng chiến trên núi rừng Việt Bắc. Khi ấy, chàng trai trẻ Phạm Duy đi ngang qua chiếc cầu biên giới, chợt thốt lên một câu hỏi rất siêu hình: Lòng tôi sao vẫn còn biên giới ? Hồn tôi sao vẫn ngừng nơi đây ? (Bên Cầu Biên Giới - 1947). Những ám ảnh khát vọng siêu hình ấy còn trở lại nhiều lần nữa, chẳng hạn trong bài Tìm nhau (1956) có những câu hát rất lạ khi đặt trong môt bài tình ca: Tìm trong câu thơ cổ, tìm qua tranh tố nữ, tìm trên môi đương ca câu thương nhớ… Tìm sâu trong muôn thủa, tìm sau lưng bốn mùa, tìm nhau như Thiên Cổ tìm Nghìn Thu.

Những ám ảnh siêu hình kia sẽ trở lại ở mức độ dàn trải nhất, sâu sắc nhất trong Rong Ca như một sự tiếp nối mà thôi.
Tiếp nối Rong Ca là Mười bài Thiền Ca, Hát Trên Đường Về (1992). Tác phẩm này hát về một chủ đề rất siêu hình: hạnh phúc trong cõi thường lạc. Nếu hạnh phúc trong tình yêu có khi sẽ trở thành những vết thương rướm máu, thì niềm hạnh phúc trong thế giới của ngã tịnh thường lạc là một cõi an bình trong suốt, ở đó không có vẩn bụi đau khổ, không có những vết xước của thù oán, không có những xao động của lo âu… Mười bài thiền ca là những tiếng hát về cõi an lành đó. Nét nhạc thanh thoát lạ thường, lời hát cũng lãng đãng như vô nhiễm.

Đến Trường ca Hàn Mặc Tử (1994) thì người nghe nhạc Phạm Duy được tiếp cận một hành trình chinh phục hạnh phúc của người nghệ sĩ, khởi đầu từ những thú đau thương để tiến về cõi vĩnh hằng trong thế giới không còn phân biệt, nơi chỉ còn tình yêu không mùa.
Khi những tác phẩm nói trên vừa ra mắt công chúng, có người đã tỏ ra ngỡ ngàng về một Phạm Duy khác, rất khác với người nhạc sĩ của những bài tình ca lãng mạn tuyệt vời, rất khác với một Phạm Duy với đôi mắt ráo hoảnh nhìn thẳng vào hiện thực nhân gian.

Thật ra, nếu nghĩ rằng Phạm Duy nay đang lui dần về sáng tác những tác phẩm cho riêng ông bởi vì không còn bóng dáng những hình ảnh quen thuộc trong các ca khúc bao lâu nay, thì cũng xin lưu ý là từ những ngày xa xưa, khi còn trẻ, Phạm Duy đã có những bài hát mang những chủ đề trừu tượng, hướng nội. Người thanh niên ấy từng nghe tiếng gọi huyền nhiệm từ trong sâu thẳm của nội tâm. Tiếng đời nào phải chỉ có tiếng tình yêu mà còn có những tiếng gọi của thinh không (Lữ hành), cảm nhận về những biên giới chia cách con người trong những không gian tâm tưởng khác nhau (Bên cầu biên giới)... Cho nên Phạm Duy vẫn chỉ là một thôi, dù là Phạm Duy của Tình ca, của Cỏ hồng, của Pháp thân, của Ngục ca, của Bài hát nghìn thu, của Hát trên đường về, hay của Trăng sao rớt rụng. Đó chỉ là một hành trình rất tự nhiên và nhất quán của một nghệ sĩ.

Như thế, ba chặng đường sáng tác của Phạm Duy là sự nối nhau của ba nhịp đời, dù ở ba chặng đời khác nhau nhưng vẫn là một: một con người sống trọn vẹn với nghệ thuật sáng tạo âm nhạc.

Hiện nay, Phạm Duy đang thực hiện công trình cuối đời mình: Minh Hoạ Kiều. Minh hoạ ở đây không mang ý nghiã là sự lặp lại, sự sao chép lại một tác phẩm văn học. Tác phẩm gọi là minh hoạ thật ra đã có tham vọng khắc hoạ lại những tâm trạng, những tính cách của Kiều trong một khung cảnh và thời gian nhất định. Đó là một thế mạnh của âm nhạc trong việc tái hiện cuộc sống.

Ở phần I này nổi lên hai điều: trời xuân rạng rỡ và những gợn mây xám báo hiệu giông bão. Cả cái huy hoàng của triều đình Gia Tĩnh rồi ra sẽ chỉ là thứ huy hoàng không thật. Nhưng đó là chuyện về sau. Ở trong phần Giáo Đầu và trong phần I này, mọi thứ đều hãy còn là tiềm ẩn. Nghe kĩ, có thể nhận ra tiếng sắt tiếng vàng chen nhau. Trong tiếng cười giòn của phần I đã nghe ra tiếng thở dài đâu đó.

Một điểm nưã cũng dễ nhận thấy trong suốt hành âm của phần I Minh Hoạ Kiều: đấy là bản minh hoạ Kiều hay minh hoạ Phạm Duy? Ta nghe đâu đây âm vang của giai điệu Phạm Duy của Nương Chiều, của Ngày Đó Chúng Mình, của Tôi Đang Mơ Giấc Mộng Dài, của Kỉ Niệm, của Em Lễ Chuà Này, của Người Tình Tuyệt Vời...

Nói thế không có nghiã là Phạm Duy đã lặp lại chính mình trong công trình mới. Giai điệu Phạm Duy xưa nay vẫn là những mẩu kỉ niệm về những tâm cảnh chúng ta, thì nay chúng cô đọng lại, dàn trải lại. Ở đây là phong cách Phạm Duy trong cách thể hiện giai điệu. Nếu nhạc của phần I Minh Hoạ Kiều có gợi lại những kỉ niệm về những bài hát cũ của Phạm Duy, thì chỉ là vì giai điệu của chúng là những nét đậm của phong cách âm nhạc Phạm Duy mà đã năm mươi năm rồi nó bảng lảng trong không gian Việt Nam.

Khí vị âm nhạc trong Minh Hoạ Kiều 1 là một dáng vẻ trữ tình nhưng rất nhiều nostalgia. Trong phần I có âm vọng nhạc đồng quê, có phong vị ca dao ngọt ngào mà chất phác. Ngôn ngữ nhạc Phạm Duy trong Minh Hoạ Kiều 1 có một nét đặc sắc mà những ai đã nghe nhạc ông không thể không chú ý: phong cách nhạc dân tộc nổi rõ, mặc dù ông không vận dụng một nét giai điệu dân nhạc nào. Nhưng bao trùm lên đó là phong vị giai điệu của Phạm Duy, rất riêng: nhạc điệu kiêu kì nhưng vẫn như dễ dàng tự nhiên như hơi thở. Ngôn ngữ nhạc trong tác phẩm này là sự dàn trải, sự tổng hợp của phong cách giai điệu Phạm Duy: nhạc ngũ cung như đã bàng bạc trong giai điệu mượt mà trữ tình, rất Phạm Duy.

Minh Hoạ Kiều phần II - Kiều gặp Tình Yêu vừa mới ra mắt gần đây. Trong phần này, Phạm Duy đã minh hoạ bằng nhạc bốn khúc đàn mà Thuý Kiều đã trình tấu cho Kim Trọng nghe trong buổi thệ ước đầu tiên. Một lần nữa câu hỏi lại được đặt ra: tâm sự Thuý Kiều hay tâm sự Phạm Duy ? Nếu khúc nhạc đầu Khúc đâu Hán Sở chiến trường là hồi quang của những hành khúc Phạm Duy ngày nào, vừa lãng mạn vừa hùng tráng, thì cũng chính nó gợi lại những bi tráng của hiện thực Việt Nam trong chính những hành khúc Phạm Duy một thời đã xa đó. Đến khúc nhạc tình Tư mã phượng cầu lại là hồi quang của những thiên tình ca đã làm nao lòng nhiều thế hệ tình nhân trước kia. Ta gặp đâu đó những thổn thức của tình yêu trong nhớ nhung đợi chờ, ta nhói lòng khi nghe tiếng gọi về của tình nhân khi chia xa. Giai điệu tình ca vẫn mượt mà óng chuốt, và vẫn nao nao lòng người. Khúc thứ ba là Kê Khang này khúc Quảng Lăng là một mảng khác của tâm sự Phạm Duy, một người nghệ sĩ tự do, không thể trói mình trước những thế lực muốn triệt tiêu tự do của mình. Giai điệu của khúc hát này không phẫn nộ như một tâm ca, không bi tráng như một hành khúc thời thế, không thê lương bi phẫn như một tâm phẫn ca… Nó tràn đầy bao dung nhưng vẫn vạch một lằn ranh dứt khoát trong tâm sự Phạm Duy về nghệ thuật. Khúc thứ tư Chiêu Quân là dư vang của tiếng hát Phạm Duy về thân phận trên hành trình nhân gian - vốn đã từng bàng bạc trong những bài hát rất xa xôi như một Bà mẹ Gio Linh, một Ngày trở về, một Tiếng hát to, một Kể chuyện đi xa… Ta cũng nghe đâu đây thoáng hiện những nét tâm tình này của Phạm Duy trong một số khúc Rong ca.

Công trình Minh Hoạ Kiều này vẽ lại những tâm cảnh, minh hoạ lại những mảnh gương soi vóc dáng của cuộc đời. Đối với người sáng tác thì đây là sự dàn trải tâm sự của hai người cha già tóc trắng ở hai quãng cách thời gian, khi đã qua hết bao nhiêu nhịp cầu nhân thế có mặn mà đấy nhưng cũng nhiều chua xót. Tác phẩm của họ đã ngồn ngộn những cảnh đời, những tâm sự ngổn ngang của một phận người. Ở đây, không phân biệt đâu là ý nghiã của cốt chuyện được minh hoạ, và đâu là tâm sự của chính người sáng tác.

Riêng đối với Phạm Duy, tưởng không có chung kết một chu trình âm nhạc dài nào cho bằng một công trình có tính cách tổng hợp nhiều bản sắc âm nhạc của ông đến thế. Một sự kết toán đẹp đẽ về sự thể nghiệm thể loại âm nhạc, về sự phát triển ngôn ngữ âm nhạc qua nét nhạc dân tộc ở trình độ sâu sắc, về sự dàn trải chủ đề âm nhạc ở mức cô đọng nhất. Ba chặng đường âm nhạc Phạm Duy về trùng phùng trong công trình dài hơi này.

Sinh hoạt âm nhạc dù ở t

•• Âm nhạc cổ truyền

•• Nhạc mới

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•••• Nghệ sĩ từ trần

•• Nghiên cứu gia VN

•• Nhạc thiểu số

•• Tiểu sử ca sĩ

•• CA TRU

•• HÁT XẨM & TRỐNG QUÂN

•• Nhạc Hàn Quốc

•• Nhạc Nhựt Bổn

•• Nhạc Trung quốc

•• Nhạc Đông Nam Á

•• Nhạc Mông Cổ

•• Nhạc sắc tộc

•• Nhạc Tuva

•• song thanh tác giả khác

•• song thanh TQH

•• Giọng trị bịnh

•••• Chakra - Yoga

•• Ca sĩ Khoomei

•• Nghiên cứu gia Khoomei

•• Âm thanh học

•• Ngôn ngữ khác

•• Đàn Mội Hmông

•• Tiêm ban sach và nhac cu

•• Tiểu sử dân tộc nhạc học gia

•• Trang nhà dân tôc nhac hoc

•• Phân mêm : Phân tach bôi âm

•• Muông

•• Tran Quang Hai

•• Nhac si Viêt Nam

•• Hat dông song thanh

•• Bach Yên

•• VIDEO/CD trên WEB

•• Nhạc Việt cổ truyền

•• Đàn Môi

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•• Tiểu sử

•• Phỏng vấn báo, radio

•• Bài viết

Visitors: 4427025