Trần Văn Khê / Thân thế và sự nghiệp , phần 2
3. Nhạc sĩ truyền thống Việt Nam
Tuy Giáo sư Trần Văn Khê dạy về nhạc học, nhưng vẫn không quên mình là nhạc sĩ truyền thống. Trong các hội nghị quốc tế, thường được mời tham dự với hai tư cách: người nghiên cứu tham luận trong các buổi họp và tối còn đàn như một nghệ sĩ .
- Trần Văn Khê còn dự rất nhiều nhạc hội, liên hoan âm nhạc Châu Á như Nhạc Hội Rennes, Royan bên Pháp, Ajaccio tại đảo Corsica, Bá Linh bên Đức, Pamplona, bên Tây ban nha, Venise, Roma bên Ý, Bratislava vàBrno (Tiệp Khắc), Shiraz (Ba Tư), Sao Paulo bên Nam Mỹ, Wellington bên Tân Tây Lan, v.v.
- Trần Văn Khê đã dạy đờn tranh trong Trung Tâm Nghiên Cứu Nhạc Đông Phương và kết quả rõ nhứt là hai người con của Giáo sư, Trần Quang Hải và Trần Thị Thủy Ngọc đều biết đờn tranh và đã dạy lại cho nhiều trẻ em và thanh niên Việt Nam tại Pháp . Riêng Trần Quang Hải rất có khiếu về âm nhạc. Tốt nghiệp nhạc viện Saigon về vĩ cầm (học với nhạc sĩ Đỗ Thế Phiệt), sang Pháp học rất giỏi về đàn tranh, đỗ đầu các cuộc thi về nhạc Ba Tư, nhạc Ấn độ, nhạc Trung quốc, lý thuyết và thực tập . Trần Quang Hải là nhạc sĩ Việt Nam thực hiện 3 dĩa 33vòng về đàn tranh và dân ca Việt Nam với người em cô cậu Hoàng Mộng Thúy từ năm 1975 tới 1978, 7 dĩa 33 vòng về nhạc Việt Nam với vợ là nữ ca sĩ Bạch Yến (từng nổi tiếng qua bài Đêm Đông của nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương và các thể loại nhạc thời trang bằng tiếng ngoại quốc. Trần Quang Hải tổng cộng làm 15 dĩa 33 vòng , 8 CD về nhạc Việt Nam, và 10 CD cộng tác với các nhạc sĩ khác, và là người Việt Nam duy nhứt được hai giải thưởng dĩa hát của Pháp (giải thưởng Hàn lâm viện Charles Cros / Grand Prix du Disque de l'Académie Charles Cros năm 1983 và năm 1996). Trần Quang Hải vừa là nhà nghiên cứu dân tộc nhạc học, làm việc cho Trung tâm nghiên cứu khoa học Pháp (viết 4 quyển sách, 300 bài viết về nhạc Á châu và hát đồng song thanh, giảng dạy tại trên 100 trường đại học tại 60 quốc gia ), vừa là nhạc sĩ trình diễn nhạc dân tộc Việt Nam (tham dự trên 140 đại hội liên hoan nhạc cổ truyền). Trần Quang Hải trở thành một chuyên gia về hát đồng song thanh nổi tiếng nhứt thế giới sau 32 năm nghiên cứụ Ngoài ra còn được tặng cho danh hiệu là «Vua Muỗng «(Le Roi des Cuillers / The King of Spoons) sau khi thắng giải tại một đại hội liên hoan nhạc dân tộc tại tỉnh Cambridge (Anh quốc) năm 1967, và «Người đánh đàn môi giỏi nhứt thế giới «(The Best Jew's Harp player in the World) trong một đại hội liên hoan thế giới về đàn môi (The 3rd World Festival of Jew's Harp) tại tỉnh Molln (Áo quốc) năm 1998 với trên 300 nghệ nhân đàn môi giỏi nhứt trên thế giới tham dư. Trần Quang Hải vừa là con và là học trò có khiếu nhứt của Trần Văn Khê, vừa bảo vệ truyền thống âm nhạc gia đình (đời thứ 5), vừa phát huy nhạc truyền thống thế giới qua sự giao lưu âm nhạc trình diễn trên các sân khấu đại nhạc hội trên thế giới từ trên 30 năm qua .Con đường của Trần Quang Hải hoàn toàn khác con đường của Trần Văn Khê nhưng cả hai đều hướng về nhạc dân tộc . Trần Thị Thủy Ngọc, con gái út của Trần Văn Khê, rất chăm học đàn tranh, luyện tập rất kỹ và nắm vững truyền thống gia đình. Cô Thủy Ngọc đã giúp đỡ người cha trong việc dạy nhạc Viê.t và đàn tranh tại Trung tâm nghiên cứu nhạc đông phương gần 10 năm trời và đã cộng tác với hai dĩa nhạc Việt Nam với cha của cô . Hiện nay Thủy Ngọc làm việc cho một toán nghiên cứu Đông Nam Á của Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học Pháp.Tại Pháp, Trần Văn Khê có ba môn sinh người Pháp, Nelly Felz, André Lantz, và Kim Lý,đã học đờn tranh rồi sau đó tiếp tục học với ái nữ là Trần Thị Thủy Ngọc. Cả ba đều đờn được các hơi Bắc, Quảng, Nhạc, Xuân, Ai , Đảo, Oán .
- Nhạc sĩ truyền thống Trần Văn Khê đã thực hiện những dĩa hát trong đó nhạc sĩ đờn độc tấu, vừa đờn vừa ca những bản xưa như «Bắc Cung Ai», đờn hòa với con gái Trần thị Thủy Ngọc, con trai Trần Quang Hải, với bạn tri âm là nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo và nữ nhạc sĩ đàn tranh Nguyễn thị Hải Phượng . Nhạc sĩ có giới thiệu những cách tùy hứng đờn nguyệt (đờn kìm) , đờn tranh trong một dĩa hát mang tên là «Âm nhạc truyền thống mới» (Nouvelle Musique Traditionnelle/New Traditional Music). Đây là sự phối hợp giữa Trần Văn Khê (đờn kìm , đờn tranh, trống) với Trần Quang Hải (muỗng, sinh tiền) . Cả hai người đã thử tìm một hướng đi cho nhạc cổ truyền Việt Nam, biến đổi cách rao, cách phát triển bài bản dựa theo tùy hứng như trong nhạc Jazz, nhạc Ấn độ, thêm vào đó tiết tấu cho hấp dẫn dựa theo chu kỳ tiết tấu (cycles rythmiques /rhythmical cycles) . Cuộc thể nghiệm đầu tiên tại đại hội liên hoan nhạc cổ truyền tại tỉnh Shiraz (Ba Tư) giữa đàn kìm và muỗng đã gặt hái một sự thành công ngoài sức tưởng tượng. Sau vài năm thử thách tại các đại nhạc hội , hòa tấu với sự phụ họa tiếng gõ song lang của Trần Thị Thủy Ngọc, một thể loại mới cho nhạc cổ truyền Việt Nam được thành hình. Năm 1973, hãng dĩa OCORA của Pháp mời ba cha con thu một dĩa nhạc cổ truyền Việt Nam theo thể loại mới . Sau ba năm bị «ngâm» trong học tủ , dĩa 33 vòng «Âm nhạc truyền thống mới» được xuất bản, đánh dấu một bước đường mới trong việc vạch một hướng đi mới lạ cho nhạc Việt . Từ đó, Trần Văn Khê có dịp về Việt Nam mang ý kiến này về xứ, thử thách với các nhạc sĩ trẻ (đặc biệt nhóm nhạc gõ Phù Đổng) và được giới trẻ tiếp nhận và phát triển mạnh mẽ . Một dĩa CD khác với các thể loại ngâm thơ cổ , thơ mới và ca những bài cổ như Ngũ đối hạ, Nam Xuân với sự cộng tác của con gái Trần Thị Thủy Ngọc
- Giáo sư Trần Văn Khê đã nhận lời thuyết trình cho Thanh niên yêu nhạc Thụy Sĩ , Nam Tư, cho các đài phát thanh, đài truyền hình nhiều nước trên thế giới về nhạc Việt Nam .
- 43 nước trên thế giới đã mời GS Nhạc sĩ Trần Văn Khê thuyết trình và biểu diễn âm nhạc truyền thống Việt Nam
4. Nhiệm vụ quốc tế
Giáo sư Trần Văn Khê là thành viên của nhiều hội nghiên cứu âm nhạc trong nước Pháp, Mỹ, Trung Quốc, và trên trường quốc tế:
- Hội nhàvăn Pháp (Société des Gens de Lettres) (Pháp)
- Hội âm nhạc học (Société Francaise de Musicologie) (Pháp)
- Hội dân tộc nhạc học Pháp (Société Francaise d'Ethnomusicologie) (Pháp)
- Hội âm nhạc học quốc tế (Société Internationale de Musicologie)
- Hội dân tộc nhạc học (Society for Ethnomusicology) (Mỹ)
- Hội nhạc học Á châu (Society for Asian Music) (Mỹ )
- Hội Âm nhạc Á châu và Thái Bình Dương (Society for Asian and Pacific Music)
- Hội quốc tế giáo dục âm nhạc (International Society for Music Education)
- Thành viên và chủ tịch hội đồng khoa học Viện quốc tế nghiên cứu âm nhạc với phương pháp đối chiếu (International Institute for Comparative Music Studies (Đức)
- Hội đồng quốc tế âm nhạc truyền thống (International Council for Traditional Music) nguyên phó chủ tịch (Mỹ)
- Hội đồng quốc tế âm nhạc (International Music Council / UNESCO), nguyên ủy viên ban chấp hành, nguyên phó chủ tịch, đương kim Chung sanh hội trưởng danh dự (Pháp)
- Viện sĩ thông tấn, Hàn lâm viện Châu Âu, Khoa Họ, Văn chương, Nghệ Thuật
Từ 14 năm nay, thành viên ban giám khảo quốc tế Giải thưởng cho cổ nhạc thế giới của đài phát thanh Insbruck (Áo quốc)
Từ 27 năm nay, thành viên và từ 10 năm nay chủ tịch ban tuyển lựa quốc tế của Diễn đàn âm nhạc châu Á do Hội đồng quốc tế âm nhạc tổ chức
Ban giám đốc của chương trình viết lại lịch sử âm nhạc thế giới (UNESCO đề xướng và tài trợ)
Với nhiều nhiệm vụ đó, GS Trần Văn Khê trong 36 năm nay đã tham dự rất nhiều Hội nghị quốc gia Pháp, Đức, và Hội nghị quốc tế. Tất cả gần 200 hội nghị cử hành trong số 67 trên thế giớị Xin đơn cử một số thí dụ:
Hội nghị các hội quốc tế
1. Hội đồng quốc tế âm nhạc (Unesco) , Paris 1958; Paris 1960; Roma 1962; Hambourg 1964; Rotterdam 1966; New York 1968; Moscou 1971; Geneva 1973; Ottawa, Montreal 1975; Bratislava, Praha 1977; Perth, Merbourne, Sydney 1979; Budapest 1981; Stockholm 1983; Berlin Est 1985; Brasilia 1987; Paris 1989 .
2. Hội đồng quốc tế âm nhạc truyền thống, Jerusalem 1961; Honolulu 1977; Oslo 1979; Seoul 1981; New York 1983; Stockholm-Helsinki 1985; Berlin Est 1987; Schladming (Áo) 1989.
3. Hội quốc tế âm nhạc học, Copenhague 1972; Berkeley (Mỹ) 1977; Strasbourg (Pháp) 1982.
4. Hội quốc tế giáo dục âm nhạc , Perth 1979; Varsovie 1980.
5. Viện quốc tế nghiên cứu âm nhạc theo phương pháp đối chiếu , Berlin 1965, 1967, 1971, 1986, 1989
6. Diễn đàn âm nhạc châu AÙ, Paris 1969; Paris 1971, Alma Ata (Nga sô) 1975; Manila (Phi luật tân) 1976; Bagdad 1979; Bình Nhưỡng (Bắc Hàn) 1983; Ulan Bator (Mông cổ) 1985; Thành phố HồChí Minh 1990; Bombay 1993.
+ Đềtài: Bảo vệ và giới thiệu truyền thống âm nhạc
Teheran 1967; Berlin 1968; Berlin 1969; Lisbonne 1971; Montreal 1975; Manila 1976; Manila 1978; Baghdad 1979; Brest 1982; Wellington (Tân Tây Lan) 1982; Madagascar 1985; Dakar 1985.
+ Đề tài: Các phương tiện truyền thống và âm nhạc
Tokyo 1961; Jerusalem 1963; Paris 1967; Hyderabad (Ấn độ) 1978; Baden Baden (Đức) 1980; New York 1983; Tây Bá Linh, 1986.
+ Đề tài giáo dục âm nhạc
Teheran 1967; Tây Bá Linh 1969; Perth (Úc châu) 1979; Varsovie 1982; Budapest 1982; Cannes 1984; Nice 1985; Paris 1988 .
Giải thưởng, Huy Chương,Bằng Danh Dự
* 1938: Bỗng du lịch Saigon-Hànội-Saigon trên đường xe lửa xuyên Việt, cho học sinh xuất sắc các trường trung học miền Nam .
1941: Bỗng Toàn quyền Đô đốc Decoux, cho học sinh đậu Thủ khoa Tú tài phần nhì và được toàn thể Giáo sư của lớp đề nghị
* 1949: Giải thưởng nhạc cụ dân tộc tại Liên hoan Thanh niên Budapest .
* 1960: Giải thưởng lớn của Hàn lâm viện dĩa hát Pháp (Grand prix de l'Academie du Disque Français) Giải thưởng Đại Học Pháp (Prix des Universités de France). Dĩa hát về nhạc Việt Nam của Boite à Musique số BM LD 365 .
* 1969: Deutscher Schallplatten Preis, Giải thưởng dĩa hát Đức quốc cho Dĩa về nhạc Việt Nam Truyền thống miền Trung , dĩa Barenreiter Musicaphon số BM 30 LD 2022. Dĩa UNESCO Collection
* 1970: Giải thưởng lớn Hàn lâm viện dĩa hát Pháp (Grand Prix du disque de l'Academie du Disque Français), Prix de l'Ethnomusicologie (Giải thưởng dân tô.c nhạc học), dĩa Barenreiter Musicaphon số BM 30 LD 2022, UNESCO Collection .
* 1974: Được cử làm hội viên danh dự của hội nghệ sĩ ái hữu va` được bằng ban khen của hội do ba nghệ sĩ lớn trong bộ môn cải lương ký tên: Năm Châu, Phùng Há, Kim Cương .
Huy chương bội tinh hạng nhứt của chánh phủ Việt Nam cộng hòa
Văn hóa bội tinh hạng nhứt của bộ giáo dục Việt Nam cộng hòa
* 1975: Tiến sĩ âm nhạc danh dư (Docteur en musique , honoris causă Đại học Ottawa (Canadă
* 1981: Giải thưởng âm nhạc của Unesco – Hội đồng quốc tế âm nhạc (Prix Unesco –CIM de la Musique)
* 1991: Officier de l'Ordre des Arts et des Lettres. Ministère de la Culture et de l'Information du Gouvernement francais (Huy chương về Nghệ Thuật và Văn Chương của Bộ Văn Hóa Chánh phủ Pháp).
* 1993: Cử vào Hàn Lâm Viện Châu Âu về Khoa Học, Văn Chương, Nghệ Thuật. Viện Sĩ thông tấn, Membre correspondant de l'Académie européenne des Sciences, des Lettres et des Arts.
* 1993: Được Tổng Thống Pháp Francois Mitterrand mời tháp tùng chuyến công du của Tổng thống tại Việt Nam
* 1994: Giải thưởng của các nhà phê bình dĩa hát Đức quốc (Deutscher SchallplattenKritik Preis)
* 1995: Giải thưởng Koizumi Fumio về dân tộc nhạc học (Koizumi Fumio Prize for Ethnomusicology, Nhựt Bổn)
* 1998: Huy chương Vì Văn Hóa Dân Tộc Bộ Văn Hóa (CHXHCNVN)
* 1999: tháng 5 dương lịch: Tiến sĩ danh dự Đại học Monoton (Nouveau Brunswick, Canadă
* 1999: Tháng 8 dương lịch: Huân chương Lao động hạng nhứt do Chủ Tịch Trần Đức Lương cấp (CHXHCNVN)
Danh sách dĩa hát do Trần Văn Khê đờn hay thu thanh điền dã:
- 1950-1952: 14 dĩa 78 vòng do hãng dĩa ORIA sản xuất bên Pháp, phát hành bên Việt Nam, gồm có 28 bản tân nhạc của các nhạc sĩ Lê Thương, Phạm Duy, Võ Đức Thu, Hoàng Quý, Thẩm Oánh, Hùng Lân, Nguyễn Hữu Ba, Hoàng Quý, Lưu Hữu Phước, vv…Lấy bí danh là ca sĩ Hải Minh .
- 1959: «Musique du Vietnam»(Nhạc Việt Nam), hãng La Boite a Musique số LD 365 (17cm/33 vòng), Paris. Grand Prix de l'Academie du Disque Français 1960. Prix des Universites de France (Giải thưởng Hàn lâm viện Dĩa hát Pháp 1960)
- 1969: «Viet Nam 1», hãng Barenreiter Musicaphon số BM 2022 (30cm/33 vòng), collection Unesco, Kassel, Đức. Deutscher Schallplatten Preis 1969 (Giải thưởng dĩa hát Đức 1969), Grand Prix de l'Académie du Disque Français 1970 Prix d'ethnomusicologie (Giải thưởng Hàn lâm viện Dĩa hát Pháp 1970 Giải thưởng Dân tô.c nhạc học )
- 1970: «Viet Nam 2», hãng Barenreiter Musicaphone số BM 2023 (30cm/33 vòng) , collection Unesco, Kassel, Đức .
- 1972: «Musique du Viet Nam , Tradition du Sud» (Nhạc Việt Nam , truyền thống miền Nam với Nguyễn Vĩnh Bảo và Trần Văn Khê), hãng OCORA số 68 (30cm/ 33 vòng) , Paris .
- 1972: «South Viet Nam , Entertainment Music» (Miền Nam Việt Nam, Nhạc Tiêu Khiển với Nguyễn Vĩnh Bảo) , hãng Philips số 6586 028 ( 30cm/33 vòng) collection Unesco: Musical Sources, Hòa Lan .
- 1972: «Inde du Nord / Pandit Ram Narayan/ Le Sarangi» (Ấn độ miền Bắc/ Nhạc sư Ram Narayan / Đàn Sarangi), hãng OCORA số OCR 69 (dĩa 30cm/33 vòng), Paris . Lời dẫn giải: Trần Văn Khê .
- 1972: «Narendra Bataju, Sitar/Surbahar» (Nhạc sĩ Narendra Bataju/ đàn Sitar và Surbahar), hãng CETO SELAF – ORSTOM số W 751, Paris . Lời dẫn giải: Trần Văn Khê .
- 1976: «Viet Nam: Nouvelle Musique Traditionnelle» (Việt Nam: Nhạc cổ truyền kiểu mới, với Trần Văn Khê, Trần Quang Hải, Trần thị Thủy Ngọc), hãng dĩa OCORA số 558 512 (30cm / 33 vòng) , Paris .
- 1978: «Viet Nam / Ca Trù and Quan Họ» hãng EMI ODEON số 064-183113 (30cm / 33 vòng), collection Unesco: Atlas Musical, Venise, Ý đại lợi .
- 1979: «Hát chèo / Vietnamese Traditional Folk Theatre», hãng Philips số 658 6035 (30cm / 33 vòng), collection Unesco: Sources Musicales, Amsterdam, Hòa Lan .
- 1983: «Viet Nam, Instruments et ensembles de musique traditionnelle» (Việt Nam, Nhạc khí và Ban nhạc cổ truyền), hãng ARION số ARN 38783 (30cm /33 vòng), Paris
- 1985: «Viet Nam, Court Theatre Music» (Việt Nam , nhạc tuồng hoàng giă , hãng EMI –ODEON số 260 2821 (30cm / 33 vòng), collection Unesco: Musical Atlas
- 1985: «Musique du Vietnam» (Nhạc Việt Nam), hãng ACCT (Agence de Coopération Culturelle et Technique) số 18110 (30cm/33 vòng), Paris .
- 1990: «Viet Nam / Hat Cheo», hãng AUVIDIS số Đ8022 (dĩa CD), collection Unesco, Paris. Tái bản của dĩa «Hat Cheo/Vietnamese Traditional Folk Theatre» của hãng Philips số 6586035 (30cm/33 vòng) . Một băng cassette của CD này được xuất bản cùng một lúc .
- 1991: «Viet Nam / Ca Tru & Quan Ho», hãng AUVIDIS Đ8035 (dĩa CD), collection Unesco, Paris. Tái bản của dĩa cùng tên của hãng Emi-Odeon số 064-183113 (30cm / 33 vòng). Một băng cassette của CD này được xuất bản cùng một lúc .
- 1994: «Viet Nam: Tradition du Sud/ Nguyen Vinh Bao & Tran Van Khe», dĩa OCORA số C 580043 (dĩa CD), Paris. Được giải Diapason d'Or . Tái bản của dĩa OCORA số 68 (30cm/ 33 vòng, năm 1972)
- 1994: «Viet Nam / Poésie et Chants / Tran Van Khe & Tran Thi Thuy Ngoc» (Việt Nam / Ngâm thơ và Hát), hãng OCORA số C 560044 (dĩa CD), Paris .
- 1995: «Viet Nam / Le Dan Tranh: Musique d'Hier et d'Aujourd'hui» (Việt Nam / Đàn Tranh: Nhạc quá khứ và hiện tại» với Nguyễn Thị Hải Phượng và Trần Văn Khê, hãng OCORA số 560045 (dĩa CD), Paris. Grand Prix de la Critique Allemande (Giải thưởng Phê Bình Đức), CHOC de la revue Le Monde de la Musique .
- 1996: «Viet Nam / Tradition du Sud/ Nguyen Vinh Bao & Tran Van Khe», hãng AUVIDIS số Đ8049 (dĩa CD), collection Unesco, Paris .
- 1998: «Viet Nam / Improvisations/ Tran Van Khe, Tran Quang Hai, Tran Thi Thuy Ngoc», hãng OCORA số C 580070 (dĩa CD), Paris. Tái bản của dĩa OCORA số 558 512 (30cm / 33 vòng, năm 1976) .
- 1997: «Viet Nam Ca Tru», hãng INEDIT số W 260070 (dĩa CD), Paris. Lời dẫn giải: Trần Văn Khê .
- 1997: «Viet Nam: Tradition de Hue» (Việt Nam: Truyền thống Huế/ Nhạc cung đình và Nhạc thính phòng), hãng INEDIT số W 260075 (dĩa CD), Paris . Lời dẫn giải: Trần Văn Khê .
- 1998: « Viet Nam: Tradition du Sud» (Việt Nam: Truyền thống miền Nam), hãng AUVIDIS Đ8070 (dĩa CD), collection Unesco, Paris. Tài liệu thu thanh và lời dẫn giải: Trần Văn Khê & Nguyễn Hữu Ba .
- 1998: «Viet Nam: Musique bouđhique» (Việt Nam: Nhạc Phật giáo), hãng INEDIT số ……. (dĩa CD), Paris . Lời dẫn giải: Trần Văn Khê .
Phim
Một số phim do Trần Văn Khê thực hiện và một số phim về Trần Văn Khê
1. Một phim về kỹ thuật hát Dhrupad của Ấn độ điệu thức Raga Todi do hai anh em Dagar trình diễn, do trung tâm GRM (Groupe de Recherche Musicale của ông Pierre Schaeffer), Paris , 1964. Một phim về cách lên dây đàn Tanpura Ấn độ và một phim về kỹ thuật đánh trống Pakhawaj và chu kỳ tiết tấu Chautala với 12 đơn vị .Một đoạn phim về cách đọc thơ và sau đó hát theo thể điệu Dhruapd và những thí dụ hát theo thể điệu Dhrupad, Kheyal và Thumri.
2. Phim «Histoire du riz», phần 1 về sắc tộc Ifugao ở Phi Luật Tân, phần 2 ở Việt Nam , phim nói bằng tiếng Pháp do Trần Văn Khê đọc . Thực hiện bởi Didier Mauro và Hồ Thủy Tiên. Sản xuất: Orchidees .
3. Phim «Dis moi, Philippines» do Trần Văn Khê đọc tiếng Pháp và do Eric Dazin thực hiện . Sản xuất: Orchidees.
Tài liệu băng thu thanh
1. Les Traditions musicales de l'Asie (Truyền thống âm nhạc Á châu ) , nói tiếng Pháp
2. Le Dhrupad: un art vocal de l'Inde du Nord (Dhrupad: nghệ thuật hát Ấn độ miền Bắc) , nói tiếng Pháp
3. Le Tabla et les cycles rythmiques dans la musique hindoustane (Trống Tabla và chu kỳ tiết tấu trong nhạc ấn theo trường phái hindoustane), nói tiếng Pháp.
4. La musique arabe (Nhạc ả rạp), 6 tập, với sự cộng tác của Giáo sư Amnon Shiloah, nói tiếng Pháp .
Băng Video
Với sự cộng tác của cơ quan thính thị của trường đại học Paris-Dauphine, INALCO (viện quốc gia ngôn ngữ và văn minh Đông phương) đặc biệt với Guy Senelle, Didier Autin và Paul Hervé .
1. Le Sheng, orgue à bouche avec Cheng Shui Cheng (Đàn Sanh Hầu với nhạc sĩ Cheng Shui Cheng). Quá trình lịch sử, cách chế tạo nhạc khí. Diễn giả: Trần Văn Khệ Khái quát về «Sanh Hầu ở Á châu»
2. Le Qin, cithare chinoise à 7 cordes sans chevalets (Đàn Cổ Cầm 7 dây không có nhạn với các nữ nhạc sĩ Liu, Yip Ming Mei) . Quá trình lịch sử, kỹ thuật đàn, một vài bài cổ điển của đàn tranh cổ cầm . Diễn giả: Trần Văn Khê .
3. Le «Dan Tranh», cithare vietnamienne à 16 cordes (Đàn Tranh Việt Nam 16 dây ) với sự cộng tác của Trần Thị Thủy Ngọc . Quá trình lịch sử , miêu tả , kỹ thuật đàn, một vài bản cổ truyền. Giải thích về điệu thức theo truyền thống miền Nam, đối chiếu với các loại đàn tranh Trung quốc, Nhựt Bổn, Đại Hàn và Mông Cổ .
4. Le «Dan Tranh», cùng một đề tài nhưng với bài bản khác. Với sự cộng tác của Trần Thị Thủy Ngọc. Trình bày và giải thích bằng tiếng Pháp: Trần Văn Khê , thực hiện cho Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông Phương .
Tài liệu thu hình video tại Việt Nam:
1. Nhạc dân gian và tuồng ở Việt Nam năm 1982
- Lễ Giỗ Tổ Cải lương miền Nam ở TP HồChí Minh (29/09/1982)
- Trích đoạn tuồng «Thần nữ dựng ngũ linh kỳ»(29/09/1982)
- Nhạc dân gian vùng Huế (làng Xuân Long) (29/09/1982)
- Hát Tuồng, truyền thống Quảng Nam. Trang điểm, đọng tác, đấu võ (25/10/1982)
- Hát Tuồng , truyền thống Bình Định: Nhạc, Diễn xuất, minh họa đọng tác, những cách ngâm do ông Võ Sĩ Thừa biểu diễn (27/10/1982)
- Tuồng dân gian Hát Bài chòị Minh họa và trích đoạn một vài tuồng cổ truyền (18/10/1982)
- Viếng thăm nữ nghệ sĩ nhân dân Phùng Há (tháng 11, 1982)
Đời sống âm nhạc ở Việt Nam năm 1987
- Tiết tấu cổ truyền dùng trong múa và tân nhạc với Văn Thinh
- Sáng chế cây đờn độc huyền Lạc Cầm phối hợp chung với đàn tranh 12 dây và 2 đàn kìm 4 dây do Mạc Tuyên sáng tạo Trình bày và thể nghiệm minh họa do các nhạc sĩ và giáo sư nhạc của trường âm nhạc Hà nộị Giáo sư Lưu Hữu Phước và Trần Văn Khê dẫn giải (17/11/1987)
- Nhạc truyền thống và dân ca trong các lớp mẫu giáo ở Củ Chi, và trường Lê Lợi (TP HCM) (27 /11/1987)
- Buổi hòa nhạc của nhóm Tiếng Hát Quê Hương, nhóm Tao Đàn do Phạm Thu'y Hoan, giáo sư trường Âm nhạc HCM xếp đặt đặc biệt cho Giáo sư Trần Văn Khê (29/11/1987)
- Độc tấu đàn tranh do Hải Phượng đàn những bản cổ truyền và sáng tác mới của Phạm Thúy Hoan (30/11/1987)
- Nhóm đàn gõ Phù Đổng tại TP HCM (04/12/1987)
- Lễ đặc biệt dành cho GS Trần Văn Khê do 3 nhóm trẻ «Tiếng Hát QuêHương», «Tao Đàn», «Bình Thạnh» (06/12/1987)
- Dạ Hội nhạc cổ truyền Việt Nam tại tòa Tổng Lãnh Sự Pháp ở TP HCM . Phần giới thiệu bằng tiếng Pháp: Trần Văn Khê (07/12/1987)
- Âm nhạc truyền thống Việt Nam tại Montreal (Canadă, ngày 19 và 27 tháng 4, 1987.
Thu hình video năm 1989:
- 5 chương trình nhạc truyền thống Việt Nam cho Viện nghiên cứu âm nhạc và múa được chiếu trên đài truyền hình của TP HCM (5 tháng 3, 1989) với GS Trần Văn Khê là diễn giả và với sự tham gia của nhạc sĩ Phạm Đức Thành (đàn bầu) và nhóm Phù Đổng (nhạc cụ gõ).
- Buổi họp của nhóm nhà thơ Quỳnh Dao do nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương tổ chức vinh danh GS Trần Văn Khê (2 tháng 9, 1989) (video NTSC)
- Lưu Hữu Phước, cuộc đời, sự nghiệp, nghệ thuật, thuyết trình bởi Trần Văn Khê với minh họa của nhiều nhóm nhạc sĩ tại nhà hát Thành phố (TP HCM) vào hai ngày 11 và 12 tháng 9, 1989 (6 giờ phim video)
- Đêm Trung Thu do bà Phạm thúy Hoan tổ chức và GS Trần Văn Khê trong vai tùy hứng Ông Tiên Già (phim video NTSC)
- Hội nghị quốc tế âm nhạc tại Osaka với bài tham luận bằng tiếng Anh «International Reception of Music in VietnameseTradition» (22/07/1990), tham gia bàn tròn về «International Recepion in Music» (24 tháng 7, 1990) (phim video NTSC)
- Hội nghị về nhạc Á châu và Thái Bình Dương tại Kobe (Nhựt Bổn) (28 tháng 7, 1990) (phim video NTSC)
- Lễ 70 tuổi của GS Trần Văn Khê do hội các nhà thơ Gia đình Quỳnh Dao do nhà thơ nữ Tôn Nữ Hỷ Khương tổ chức tại TP HCM (14 tháng 11, 1990) (phim video NTSC)
- Giới thiệu nhạc đàn tài tử miền Nam do Trần Văn Khê thuyết trình do đài Truyền hình Cần Thơ thực hiện (16 tháng 11, 1990) (phim video NTSC)
- Đêm vinh danh GS Trần Văn Khê do nhóm Tiếng Hát Quê Hương tổ chức (16 tháng 11, 1990) (phim video NTSC)
- Buổi nói chuyện của GS Trần Văn Khê về các hoạt động của giáo sư ở hải ngoại tại Thùy Khương trang (22 tháng 11, 1990) (phim video NTSC)
- Kỷ niệm Nguyễn Tri Phương, ông cố ngoại của GS Trần Văn Khê tại phường Bửu Hội, tỉnh Biên Hòa (Đồng Nai ) (2 tháng 12, 1990) (phim video NTSC)
- Chương trình âm nhạc của nhóm Tiếng Hát Quê Hương cho đài truyền hình TP HCM (1 và 2 tháng 12, 1990) (phim video NTSC)
Ngoài ra từ 1991 tới nay (2001) hàng trăm chương trình phim video đã được thực hiện tại Việt Nam .
Về băng thu thanh, GS Trần Văn Khê đã thu trên 600 giờ nhạc cổ truyền Việt Nam về ca trù, hát chèo , hát tuồng, ca Huế, nhạc cung đình Huế, đàn tài tử miền Nam rất hữu ích cho việc nghiên cứu lịch sử nhạc Việt sau này .
Sách mới
· 2000 : "Văn Hóa với Âm Nhạc Dân Tộc", Nhà Xuất Bản Thanh Niên, 158 trang, TP HCM, Việt Nam.
Tiểu luận của GS Trần Văn Khê về cải lưong, ca trù, Tán Tụng trong nhạc Phật giáo, nét nhạc dân tộc trong nhạc Lưu Hữu Phước, và một vài nhận xét về những nghệ sĩ trẻ Phương Phương, Nguyễn Thanh Hằng và Ea Sola.
· 2000 : "Trần Văn Khê & Âm Nhạc Dân Tộc", Nhà Xuất Bản Trẻ, 432 trang, TP HCM, Việt Nam
Sách gồm có hai phần : hồi ký và bút ký ghi lại những kỷ niệm của tác giả ở Việt Nam và hải ngoại qua âm nhạc trong thời gian 50 năm , và khảo cứu với 10 bài viết về ngôn ngữ và âm nhạc Việt / Á Châu, dân ca Quan Họ, đàn đá Khánh Sơn, cải lương với ưu và nhược điểm, và liên hệ giữa âm nhạc và kiến trúc .
· 2001 : "Hồi ký Trần Văn Khê: Ướm mầm trổ nụ " tập 1, Nhà Xuất bản Trẻ , 303 trang, TP HCM, Việt Nam
Giai đoạn đầu tiên của GS Trần Văn Khê từ lúc sơ sinh tới lúc đi vào kháng chiến. Lúc nhỏ học ở Pétrus Ký, gặp Xuân Diệu, Huy Cận , Phạm Duy, và hoạt động lúc học trường thuốc ở Hà nội cùng với Lưu Hữu Phước , Mai Văn Bộ . Có liên hệ với giai đoạn sơ khai của lịch sự tân nhạc Việt Nam.
· 2001: "Hồ i ký Trần Văn Khê: Đất khách quê người", tập 2, Nhà Xuất Bản Trẻ, 287 trang, TP HCM, Việt Nam
Giai đoạn đi sang Pháp năm 1949 đưa tới việc đậu xong tiến sĩ âm nhạc và phát huy vốn cổ nhạc Việt ở hải ngoại (Pháp và các diễn đàn hội nghị quốc tế) cho tới đầu thập niên 70.
Xin xem thêm về sự nghiệp âm nhạc của GS Trần Văn Khê:
Prof.Dr.Tran Van Khés Homepage
www.philmultic.com/tran
Tôi sẽ phát triển thêm về khía cạnh nghiên cứu nhạc Á châu cũng như ảnh hưởng của GS Trần Văn Khê trong ngành dân tộc nhạc học (ethnomusicology) trên thế giới trong một dịp khác .
Trần Quang Hải
(Paris/ Pháp)
Dân tộc nhạc học gia (Ethnomusicologue/ Ethnomusicologist)
http://www.tranquanghai.info