Từ năm 1996, tôi đã trình diễn trên 1.500 buổi trong trường học ở Âu châu cho trẻ em từ 3 tới 16 tuổi . Những cơ quan chính thức như « Tuổi trẻ âm nhạc Pháp » (Jeunesses Musicales de France), « Tuổi trẻ âm nhạc Bỉ » (Jeunesses Musicales de Belgique), « Tuổi trẻ âm nhạc Thụy Sĩ » (Jeunesses Musicales de Suisse) và « Rikskonsertene » của Na Uy đã tổ chức những chuyến lưu diễn nhạc Việt tại các trường học.
Dạy nhạc cổ truyền Á châu qua trình diễn học đường tại Âu châu .
Tại Na Uy, cơ quan Rikskonsertene tổ chức 5.000 buổi hòa nhạc cho học sinh mỗi năm . Cơ quan này mời những nhạc sĩ chuyên môn theo nhiều thể loại để trình diễn cho trẻ em . Tôi làm việc cho cơ quan Rikskonsertene từ 1977 tới 1983, và từ 2003 tới nay mỗi năm diễn ba tuần và hai buổi diễn mỗi ngày. Thầy giáo và học sinh các trường tôi đến viếng đều được chuẩn bị trước với một quyển tập nhỏ có hình ảnh, lời giải thích về lịch sử , địa lý và lời dẫn giải ngắn về nhạc Việt Nam và nhạc khí mà tôi trình diễn .
Cơ quan « Tuổi trẻ âm nhạc Bỉ » (Jeunesses musicales de Belgique) và « Tuổi trẻ âm nhạc Thụy sĩ » (Jeunesses musicales de Suisse) chuẩn bị các chuyến lưu diễn nhạc trong trường học tương tự như ỏ Na Uy .Cái khác là ở Bỉ và Thụy Sĩ tôi có người của cơ quan tổ chức đi theo để hướng dẫn tôi suốt chuyến lưu diễn . Vai trò của hướng dẫn viên là để giới thiệu tôi với ông hiệu trưởng trường hay người lo chương trình nhạc của trường nơi mà tôi đến diễn, và để giới thiệu việc làm của tôi cũng như nhạc tôi trình bày cho các cô cậu học sinh trước mỗi buổi diễn . Hầu hết các buổi diễn đều được tổ chức tại phòng thể dục cho khoảng 100 học sinh cùng lứa tuổi .
Ở Pháp, có hai cách tổ chức hòa nhạc học đường : một là tổ chức trong trường học, hai là tổ chức ngoài trường học . Trình diễn bên trong trường học do « hội địa phương huấn luyện và hoạt náo âm nhạc » (Association départementale pour initiation et animation de la musique) (ADIAM) và « hội địa phương phát triển huấn luyện âm nhạc » (Association départementale pour le Développement de l’Initiation musicale) (ADDIM). Những buổi trình diễn nhạc như kiểu này được tổ chức cho ba hay bốn lớp ( 80 tới 100 học trò)mỗi lần . Ngân khoản bị giới hạn, số lượng buổi diễn ít hơn đối với cơ quan « Tuổi trẻ âm nhạc Pháp » (Jeunesses Musicales de France). Tuy nhiên , ảnh hưởng nhạc đối với học sinh lại mạnh hơn.
Các buổi trình diễn nhạc do cơ quan « Tuổi trẻ âm nhạc Pháp » (Jeunesses Musicales de France) đề nghị được tổ chức tại một rạp hát hay một thính đường âm nhạc cho từ 10 tới 20 lớp ( từ 250 tới 500 trẻ em) mỗi lần .Đôi khi tôi phải diễn 3 buổi trong một ngày với số trẻ nghe nhạc lên tới từ 1000 tới 1500 . Mỗi chuyến đi lưu diễn như thế được tổ chức tại một vùng . Một người trách nhiệm của vùng đó có nhiệm vụ gởi tài liệu về nhạc Việt và chương trình của tôi đến các hiệu trưởng và tỉnh trưởng của mổi nơi tôi tới diễn. Nhiều xe buýt chuyên chở công cộng chở các trẻ em từ các tỉnh hay làng xa tới thính đường nhạc hay rạp hát . Ảnh hưởng nhạc đối với trẻ em không mạnh lắm ; trong một phòng to lớn muốn thu hút sự chú ỳ của trẻ em rất là khó. Loại nhạc nào càng ít quen thuộc với chúng thì chúng càng ít chú tâm tới .
Phương pháp trình diễn
Sự tiếp xúc của tôi với nhiều thể loại nhạc Âu châu như dân nhạc (1), tân nhạc (2), jazz, nhạc điện thanh (3), công với nhạc cổ điển Tây phương , đã giúp tôi hiều người Tây phương và trao đổi với họ khi tôi trình diễn . Hơn nữa, tôi có nhiều cơ hội dạy nhạc tại các trường đại học, và kinh nghiệm dạy đã khai triển phương pháp riêng biệt của tôi về cách trình diễn nhạc Á châu cho khán giả Tây phương được hiệu quả tốt đẹp hơn .
Sau 35 năm trinh diễn nhạc trong trường học ở Âu châu, tôi có thể tóm lược phương pháp dạy nhạc của tôi qua ba điểm : 1/ đi từ cái biết đến cái không biết ; 2/ đi từ dễ tới khó ; 3/ đi từ cụ thể đến trừu tượng . Suốt thời gian lưu diễn nhạc ở Âu châu, tôi luôn luôn giải thích mỗi cây đàn trước khi đàn, mỗi bài hát trước khi hát . Thí dụ cây đàn môi chẳng hạn, tôi cho các trẻ em Âu châu thấy cây đàn môi Âu châu trước vì chúng biết loại đàn môi này . Sau đó tôi cho thấy cây đàn mội tre Á châu ; đó là loại đàn môi chúng không biết . Rồi tôi đàn cây đàn môi Âu châu với những âm thanh căn bản. Để đi từ dễ tới khó, tôi cho nghe trước tiên từng bồi âm của âm thanh căn bản (âm thanh căn bản là âm thanh được nghe khi lưỡi rung của đàn môi được khảy và rung trong miệng giữ nguyên không được thay đổi hình dáng) . Rồi, tôi trình bày tiết tấu, tạo giai điệu và các loại âm thanh điện tử . Khi giải thích từ cụ thể đến trừu tượng , tôi đánh một bài nhạc Âu châu mà học sinh đều quen biết, và sau đó tôi chuyển đàn môi thành nhạc khí biết nói chuyện với âm thanh giống như giọng nói của người máy rô – bô .
Phương pháp này được áp dụng cho muỗng . Tôi cho thấy kỹ thuật đánh muỗng theo kỹ thuật Âu châu trước rồi tiếp theo đó cho thấy kỹ thuật Á châu. Đó là đi từ cái biết tới cái không biết . Gõ muỗng trên đùi, kéo lên trên càc ngón tay, bàn tay, cánh tay và sau cùng dùng miệng thay đổi khối lượng bên trong miệng để tạo giai điệu bằng cách gõ muỗng vào càm cho thấy cách đánh muỗng đi từ dễ tới khó .Tạo tiết tấu và giai điệu với âm thanh giống như đàn điện « synthétiseur » là điểm trừu tượng . Khi biểu diễn giọng , tôi bắt đầu với giọng hát loại « opéra » tây phương (kỹ thuật học sinh Âu châu quen biết), và kỹ thuật hát kinh kịch Trung quốc với giọng óc (kỹ thuật học sinh Âu châu không biết ). Rồi tôi dùng giọng ngực như được dùng trong loại hát opéra (dễ ), tôi chuyển sang từ giọng ngực sang giọng hầu, giọng mũi và giọng óc (khó) như trong giọng hát của loại múa rối Bunraku của Nhật Bản . Tôi dùng giọng hát thường để chứng minh khía cạnh cụ thể , và bắt sang hát đồng song thanh (hát hai giọng cùng một lúc) để chứng minh khía cạnh trừu tượng .
Những buổi diễn của tôi cho trẻ em dự trù khoảng 40 phút với 20 tiết mục từ các loại nhạc khí đơn giản như muỗng , đàn môi tới những nhạc khí nguyên xi như đàn tranh Việt Nam , nam hồ Trung quốc và trống Ba Tư . Tôi hát các loại dân ca gồm hát ru, hát làm việc (Hò hụi) và đối ca (Cò Lã, Trống Quân) . Từ 1978 trở đi, Bạch Yến và tôi kết hôn với nhau và giúp tôi về phần trình diễn hát dân ca và giới thiệu y phục cổ truyền .
Trẻ em có thể phụ họa với phần điệp khúc chỉ có vài chữ dễ hát như « Hụ là khoan » chẳng hạn.
Làm thế nào để trình bày nhạc chưa quen cho trẻ em Âu châu để thu hút sự chú ý của chúng ? Đó là phương pháp sư phạm dạy nhạc cho trẻ em. Chìa khóa của thành công là làm sao tạo cho trẻ em cười thoải mái khi nghe nhạc biểu diễn và đồng thời dạy cho chúng học hỏi nhiều điều thêm . Tôi biến buổi trình diễn thành một chương trình giải trí . Nhờ vậy, trẻ em học được nhạc và thích nhạc một cách thú vị .
Suốt cả cuộc đời chuyên nghiệp của tôi với tư cách giáo sư và nghệ nhân, tôi đã gặt hái nhiều thành quả tốt đẹp được kiểm chứng qua nhiều bài báo khen ngợi cũng như lời nhận xét của các thầy cô giáo sau các biểu diễn (4). Tôi nghĩ rằng trẻ em Âu châu có thể chấp nhận đủ loại nhạc nếu nghệ nhân là một thầy giáo giỏi, một nhạc sĩ có đủ tài năng, và một nhà mô phạm có nhiều kinh nghiệm .
(1) Tôi là sáng lập viên của nhóm dân nhạc Pháp » Le Bourdon » được thành lập năm 1969 tại Paris
(2) Tôi đã sáng tác trên 400 ca khúc loại tân nhạc
(3) Tôi học nhạc điện thanh năm 1965-1966, và đã sáng tác vài tác phẩm được trình bày tại Pháp và các xứ Âu châu .
(4) Tôi luôn luôn đưa quyển tâp lưu niệm cho các thầy cô giáo viết cảm nghĩ của họ sau buổi diễn . Tôi có 60 quyển tập với hàng nghìn lời khen của các nhà giáo .
« Music of the World »
A teacher guide and pupil’s workbook
Publisher: J.M.Fuzeau, 320 pages, 3CD, and a workbook (48 p) Courlay, 1994
“Âm nhạc thế giới “
Sách giáo khoa hướng dẫn dành cho giáo sư và một tập bài tập
Nhà xuất bản : J.M. Fuzeau, 320 trang , 3 dĩa CD, và một quyển bài tập (48 trang), Courlay, 1994 .
Sách “Music of the World” (Âm nhạc thế giới ) gồm có một quyển sách dày 320 trang dành cho thầy giáo, một quyển bài tập dày 48 trang cho học sinh , và 3 dĩa CD hay cát-xét (cassette) với những thí dụ nhạc từ 5 lục địa . Tài liệu này do 3 người biên soạn: Trần Quang Hải (nhạc học gia), Michel Asselineau (nhà xuất bản) và Eugène Bérel ( nhạc học gia và nhà xuất bản phó) .
Sách này được phát hành tại thành phố Courlay, Pháp, do nhà xuất bản J.M.Fuzeau in name 1994. Năm 1993 quyển sách này đầu tiên được xuất bản bằng tiếng Pháp. Năm 1994 sách được xuất bản bằng tiếng Anh . Năm 1996 sách được dịch sang tiếng Đức và tiếng Tây ban nha vào năm 1998 .
Tài liệu này được dùng để giảng dạy nhạc cổ truyền thế giới cho trình độ tiểu học và trung học . Mục đích là giúp cho học sinh và trẻ em biết rõ giá trị về sự đa dạng về sáng tạo của nhân loại và giúp chúng nhận thức và hiểu rõ những luồng văn hóa âm nhạc lạ cũng như về sự diễn đạt âm nhạc .
Hai dĩa CD hay cát-xét bao gồm gần 2 giờ 30 phút 78 thí dụ âm thanh xung quanh bốn đề tài : giọng hát , nhạc cụ gõ, đàn gió và đàn dây. Quyển sách dành cho thầy giáo trình bày cách giảng dạy phương pháp nội dung, với nhiều tài liệu chi tiết qua những thí dụ âm nhạc trên thế giới . Điểm đặc biệt là mỗi thí dụ nhạc đều có phần giới thiệu địa lý, lịch sử, huyền thoại và khía cạnh kỹ thuật của mỗi điệu nhạc như nhạc khí thuộc xếp loại nào, phương pháp , thể điệu được dùng . Sách hướng dẫn có thêm những đề tài đề nghị rõ ràng giúp cho nhà giáo lựa chọn đề tài theo sở thích .
Sách bài tập cho học trò gồm có nhiều câu hỏi chính xác giúp chúng khám phá những bài giảng thầy giáo dạy . Dĩa CD hay cát-xét thứ ba gồm những thí dụ nhạc để minh họa dựa theo sách bài tập của học trò .
Trong vòng năm năm (1993-1998), sách “Âm nhạc thế giới “ đã được xuất bản bằng bốn thứ tiếng (Pháp, Anh, Đức, Tây Ban Nha). Sách này là một dụng cụ quan trọng tối cần cho việc học hỏi nhạc cổ truyền và việc tìm hiểu những truyền thống âm nhạc trên thế giới mà không cần phải là chuyên gia âm nhạc . Đó là mục tiêu chánh của quyển sách này .
===================================================
Tôi thuộc gia đình nhạc sĩ cổ truyền họ Trần đời thứ năm và đã học nhạc cổ truyền theo phương pháp truyền khẩu với thân phụ ông là GS Trần Văn Khê, một nhạc sĩ nổi tiếng và nhạc học gia . Tôi đã theo học nhạc Tây phương tại âm nhạc viện Saigon (1955-1961) để trở thành nhạc sĩ vĩ cầm. Sau đó tôi học nhạc học, dân tộc nhạc học , và nhạc Đông phưong ở Paris (Pháp) từ năm 1962 tới 1967 trước khi trở thành chuyên gia nghiên cứu nhạc Á châu tại bộ âm nhạc dân tộc (Département of Ethnomusicology) của Viện Bảo Tàng Con Người (Musée de l’Homme, Paris) từ năm 1968.
_________________
TRAN QUANG HAI