Bản nhạc đầu tiên do ông Cao Văn Lầu tức Sa’u Lầu viê’t lần đầu tiên trên cây đàn cò mang tựa đề « Hoài Lang » vào năm 1920 để tưởng nhơ’ tơ’i người vợ của mình . Ông và vợ chung sô’ng 8 năm vơ’i nhau mà không co’ con nên cha mẹ ông buộc ông phải xa vợ để đi tìm một người vợ kha’c để co’ con nối dõi dòng họ theo truyền thô’ng Trung quô’c .
Xuất xứ bản Vọng Cổ
Lời của bài Dạ Cổ Hoài Lang là do ông Tần Xuân Thơ viê’tKhi nghệ thuật cải lương bắt đầu pha’t triê ?n mạnh, bài « Dạ Cô ? hoài lang » được châ’p nhận cha’nh thư’c vào bài ba ?n cải lương và lần lần thay thê’ bản Tự Đại Oa’n
Bài Dạ Cổ hoài lang được ông Tần xuân Thơ đề nghị vơ’i ông Cao Văn Lầu đổi thành Vọng cổ hoài lang sau khi hai vợ chồng co’ mâ’y mụn con vơ’i nhau . Bài Vọng cổ hoài lang được pha’t triển thành nhịp tự Người đầu tiên viê’t bài Vọng cổ nhịp tư là Mộng Vân qua bài Bá Lý Hề. Tiê’p theo đo’, ông Huỳnh Thủ Trung tự Tư Chơi viê’t bài A’o Ngậm Non đoài . Co’ ngườI cho rằng bài “Tiê’ng Nhạn Kêu Sương của Tư Chơi mơ’i là bài đầu tiên viê’t theo bản Dạ Cổ hoài lang nhịp tư .
Thầy Giác là người đầu tiên chuyển bài Dạ Cổ hoàI lang nhịp tư sang nhịp ta’m vào năm 1930 . Nhưng chính Năm Nghĩa (tên thật là Lư Hòai Nghĩa hát bài Văng Vẳng tiê’ng chuông chùa thu trong dĩa Asia khoảng năm 1935-37 .
Nghệ sĩ U’t Trà Ôn mở đầu cho bài vọng cổ nhịp 16 vào năm 1950 qua bài Tôn Tẩn giả điên . Vì bài khá dài nên phần đông chỉ ha’t tới câu 12 là ngưng sau khi xuống chữ Hò .
Trong thờI gian này ca’c hãng dĩa Việt Nam như Asian, Hồng Hoa, Lam Sơn, Hoành Sơn, vv.. đua nhau mời ca’c ca sĩ co’ giọng ca ngọt như U’t TràÔn , Hữu Phươ’c ca Vọng cổ nhịp 32 từ năm 1954 .
Loại dĩa 78 vòng của thờI đo’ chỉ co’ 7 phu’t cho hai mặt . Cho nên vọng cổ 32 nhịp chỉ co’ thể ca 6 câu là hê’t 7 phu’t . Vì ly’ do kỹ thuật thu thanh, cho nên bài vọng cổ 20 câu, hay 12 câu bị thu ngă‘n lại thành 6 câu để tiện cho việc thu thanh vào một dĩa 78 vòng .
Ca’c câu đầu co’ nốt chót: cô’ng, xang, hò, hò, xề, liu (tư’c là hò)
Về sau để cho bài vọng cổ co’ một sắc tha’i mơ’i , mơ’i chia ra làm hai phần : 1-2-3, và 4-5-6 . Trươ’c khi bă‘t đầu câu 1 và 4 đều co’ ngâm thơ, no’i lối hoặc ha’t ca’c bản ngă‘n như Ly’ con sa’o, vv…Lô’i này gọi là đàn ca’ch hay ca ca’ch .
Năm 1964, nhạc sĩ và soạn giả Viễn Châu mơ’i chọn một sô’ bài ba ?n tân nhạc co’ âm hưởng cải lương để đưa vào bài Vọng cổ . Từ đo’ mơ’i pha’t sinh ra hiện tượng “Tân cổ giao duyên ». Vì thêm tân nhạc vô , cho nên bài Vọng cổ bị ru’t ngắn lại còn 4 hoặc 5 câu . Do đo’ , thường ca’c người ha’t chỉ trình bày bài vọng cổ câu 1, câu 2, rồi nhảy sang câu 5, và câu 6.
Sau này co’ ca sĩ ha’t Vọng cổ nhịp 64 hay 128 nhưng kê’t quả không như y’ vìchỉ ke’o dài bài ha’t chư’ không mang lại một să‘c tha’i gì mơ’i lạ cả .
Qua gần một thê’ kỷ bản Vọng cổ đã được pha’t triển và chiê’m một chỗ đư’ng quan trọng như’t trong nhạc dân tộc từ nhạc thi’nh phòng, tài tử, cải lương, kịch nghệ .Chưa co’ một bài bản nào thịnh hành bằng bản Vọng cổ trong lịch sử nhạc truyền thô’ng Việt Nam .
_________________
TRAN QUANG HAI