Mới vào ngày đầu năm của năm Bính Tuất, tôi nhận được tin buồn từ Paris. Nhạc sĩ Trần Quang Hải và nhạc sĩ Linh Chi thông báo cho bạn bè trên net hay là nhạc sĩ hay giáo sư, cũng như nhà văn Nguyễn Mạnh Bích đã mãn phần. Đây là là một cú "shock" đối với tôi. Tháng 12 của 2005 khi nhạc sĩ Nguyễn Hiền ra đi, tôi gửi email lên net xin lời phân ưu cho bài viết, thì phải nói là nhà văn Mạnh Bích rất tình nghĩa, rất sốt sắng gửi bài viết ngay ngày hôm sau. Tôi xem lại lời ông viết cho nhạc sĩ Nguyễn Hiền, với một ý tưởng áy náy trong lòng, tôi đã nghĩ tôi nợ ông một bài viết. Và rằng nó chính là: "Giã Từ Mạnh Bích của "Thôn Trăng" " trước mặt tôi đây, mà tôi góp nhặt nhiều bài viết của các thân hữu biết ông nhiều, hoặc giả không biết nhiều về ông, nhưng trong ý nghĩ của tôi thì Nguyễn Mạnh Bích quý bạn bè trong tình bằng hữu, vì thế nên trong văn chương sách vở cũ với cái ý niệm "Một con ngựa đau, cả tàu không ăn cỏ", tôi xin mời quý bằng hữu hãy đến cùng Nguyễn Mạnh Bích lần này khi ông rũ bỏ kiếp nợ trần gian.
Giã Từ Mạnh Bích của "Thôn Trăng"
Việt Hải
![]()
![]()

Trong bài viết của nhà văn Từ Trì từ Paris qua tựa đề "Nhà văn Mạnh Bích Từ Trần", bài viết đi qua nhiều chi tiết về nhà văn Mạnh Bích (*) như sau:
"Nhà văn Mạnh Bích đã ra đi. Nhà văn Mạnh Bích không còn nữa: một tin buồn trong cộng đồng Người Việt Tự Do. Mạnh Bích tên thật là Nguyễn Mạnh Yên, sinh năm 1929 tại Thừa Thiên trong một gia đình nho phong miền Trung. Mạnh Bích là một con người ưu tú, nhiều tài năng đa dạng. Ông cùng một lúc là một giáo chức, môt nhạc sĩ và một nhà văn.
Tốt nghiệp cử nhân văn chương Pháp và cao học văn minh Pháp tại Đại Học Đường Sàigòn., ông đã giảng dạy môn văn chương Việt Nam tại các trường trung học Pháp ở Sàigòn như Jean-Jacques Rousseau, Marie Curie, Regina Pacis, Taberd và dạy môn Văn chương Pháp tại Viện Đại Học Vạn Hạnh, và Institut français. Định cư tại Pháp, ông tiếp tục giảng dạy môn văn chương Pháp tại các trường trung học Georges Brassens và André Maurois thuộc Académie de Versailles.
Là một nhạc sĩ ưu tú ông đã sáng tác tại Việt Nam trong thời gian 1949 - 1981 rất nhiều bản nhạc nổi tiếng như Dưới bóng dừa, Cánh phượng, Tâm tư v… v…và nhất là 10 ca khúc « Tiếng hát trong tù ». Tại quốc ngoại ông hay sáng tác theo lối phổ nhạc vào thơ mà ông gọi là loại « Lời thơ ý nhạc ». Các bài thơ thuộc loại này gồm có những bài « Anh ghép tên em vào tên anh » (thơ Hồ Trọng Khôi), « Ngày xưa » (thơ Tuệ Nga), « Về động Đào hoa » (thơ Phạm thị Nhung), « Tình già » (thơ Hoài Việt) v… v…
Là một nhà văn, Mạnh Bích viết rất nhiều cuốn sách có giá trị để gửi gấm những suy tư cảm nghĩ sâu rộng về cuộc sống tâm linh của con người. Đáng chú ý nhất là bộ tam thức gồm 3 cuốn Giòng sông trầm lặng, Lá rụng và Gió cuốn mây bay trong đó ông đưa ra những niềm trăn trở triết lý về sự « tĩnh lặng của tâm hồn ».
Là một nhà văn song ngữ ông còn viết nhiều văn phẩm bằng tiếng Pháp mà đặc biệt nhất là cuốn « Le Vietnam crucifié » nói lên những nỗi thống khổ của người dân Việt qua các cuộc tranh chấp ý thức hệ trên thế giới. Do đó ông đã được giải thưởng văn chương đặc biệt của Hội Văn Gia Pháp Ngữ Quốc Tế (ADELF hay Association des écrivains de langue française) năm 2001.
Là một nhà văn đầy nghị lực, Mạnh Bích từ khi gia nhập tổ chức Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại (VBVNHN) vào năm 1995 đã tích cực hoạt động trong Trung Tâm Âu Châu. Ông hăng hái trợ giúp và ủng hộ Ban Chấp Hành của Trung Tâm trong việc liên lạc với các tổ chức bạn. Ông đã cùng với nhà văn Từ Nguyên, Chủ Tịch Trung Tâm Âu Châu, đại diện Văn Bút Âu Châu trong kỳ V của Đại Hội Đồng VBVNHN năm 1995 tại Little Saigon và được bầu vào chức vụ Chủ Tịch Ban Chấp Hành Lâm Thời của VBVNHN để tổ chức cuộc bầu cử tân Ban Chấp Hành năm sau. Cùng với các văn hữu Hoài Việt và Từ Nguyên ông đã thành lập hội Bạn Văn để bổ túc các hoạt động của VBVNHN.
Nhà văn Mạnh Bích đột ngột qua đời vào tối hôm mồng hai Tết Bính Tuất tức là ngày 30 tháng 01 năm 2006 để lại một khoảng trống mênh mông trong giới văn nghệ sĩ Việt Nam hải ngoại.
(Thương khóc Mạnh Bích Nguyễn Mạnh Yên
Đồng Tác giả Bình Huyên, Paris, đầu 02/2006)
(*): Giáo sư nhà văn nhạc sĩ Nguyễn Mạnh Yên, có bút hiệu Mạnh Bích, là tác giả bộ Tam Thức, Gió Cuốn Mây Bay, Lá Rụng, Giòng Sông Trầm Lặng."
Từ thành phố New Orleans bị gió bão thiên nhiên tàn phá, nhà thơ Mùi Quý Bồng cho tôi đôi dòng về nhạc sĩ Mạnh Bích. Anh cũng là Chủ biên (Chief Editor) Tập San của Hội Y Nha Dược Việt Nam tại tiểu bang Louisiana:
"Tôi thực sự không được biết về nhạc sĩ Mạnh Bích nhiều, ngoại trừ hai bài nhạc mà ông đã sáng tác cho vườn âm nhạc Việt Nam. Bài thứ nhất là "Thôn Trăng", tôi còn nhớ là tôi đã nghe nhiều lần hồi còn nhỏ, học trung học, nhạc như sau:
Thôn Trăng
(Kính tặng thầy Nguyễn Trung Phán )
Đêm nay trăng soi thôn trang,
Gió đưa gió đưa nhịp chảy vang (quê hương à ơi)
Trăng đến vui thôn làng cho nặng tình yêu thương
(âm vang) ...
Êm êm trên sông ven thôn,
Gió đưa gió đưa giọng hò khoan hò khoan (hò khoan hò khoan)
Nghe sóng vỗ mạn thuyền gợi tình, tình quê hương
Nghe sóng vỗ mạn thuyền thêm nặng lòng biết bao là tình .
Ớ! quê hương mình (hò dô hò) đồng rộng trời thanh
Ớ! nước non mình (hò dô hò) cảnh đẹp người xinh
Ớ ờ ơ, này là trai (ơ) gái (ớ ớ dô ớ hò) ta như đôi bàn tay,
Ớ ờ ơ, cùng một giòng (ư) máu (ớ ớ dô ớ hò) ta thương yêu (ờ) nhau.
Đêm nay trăng soi thôn trang,
Gió đưa gió đưa dật dìu cành tre (quê hương à ơi)
Ai hát câu thơ Kiều nặng tình quê hương (âm vang) ...
Đêm đêm ai ca ru con khẽ đưa, khẽ đưa à ơi câu buồn thương (khoan khoan hò khoan)
Bao trẻ thơ trong làng ra bờ đê cười ca vang
Ra ngắm ông trăng vàng thêm nặng lòng mến yêu thôn làng
Ớ! Quê hương ờ ơi! Ơi, quê hương ờ ơi!
(Nhạc Mạnh Bích, lời: Nguyên Diệu)"
Bài ca này được nhà in Tinh Hoa Miền Nam ấn hành vào năm 1968. Bài thứ hai được nhiều người biết đến là "Không Bao Giờ Em Khóc" thì thành thực mà nói tôi chưa nghe bao giờ cả vì trong thời gian CS bắt dân quân cán chính VNCH đi "học tập cải tạo" thì tôi đang ở Hoa Kỳ du học. Bài Thôn Trăng mang âm hưởng nghe rất vui tươi, đầy tình tự quê hương, còn bài "Không Bao Giờ Em Khóc" có lời rất cảm động, nhưng tiết tấu nhạc vẫn có một nét tin tưởng, phấn khởi chứ không ủy mị khóc than, phản ảnh niềm tin mãnh liệt vững vàng ở một ngày mai tái ngộ dù cho sóng gió dập vùi:
"Không Bao Giờ Em Khóc (Mạnh Bích)
(Tặng những người vợ chờ đợi chồng đi học tập cải tạo về)
Tìm anh trong núi rừng Lam Sơn chập chùng
Tìm anh trong gió, trong mưa đất Kà-Tum
Em, em đi tìm trong những rã rời
của miền cát nắng A - Ba mươi (A30)
Trong màu nắng quắt những ân tình xưa
Chờ anh mãi mãi, bằng con tim u hoài
Chờ anh cho dẫu... sắc hương có tàn phai
Nhưng không bao giờ em khóc, cho dù...
Cho dù nắng đốt cháy tuổi xanh
Cho dù gió buốt tái tê duyên lành !
Nhưng anh ơi, như Chức Nữ gặp chàng Ngưu
Anh anh ơi, khi chúng ta gặp lại nhau
Thì anh, thì anh sẽ nhìn trong khóe mắt lệ đoanh tròng
Có bóng anh yêu muôn đời
Với ánh sáng trên làn môi
Chờ ngày hôm ấy, ngày đôi ta tương phùng
Lệ tràn đôi má chúng ta sẽ hòa chung
Em, em sẽ cùng anh nhấp men tình
Qua vị nước mắt ướt ven môi
Trong màu sáng chói ánh sao đổi ngôi
Em đang chờ anh, em sẽ chờ anh mãi mãi...!!!"
Tóm lại, tôi thích cả hai bài hát này, vì mỗi bài đáp ứng cho một chủ đề riêng, nguồn rung cảm riêng của người nhạc sĩ khi sáng tác. Nhưng thưa anh Việt Hải tôi nghĩ không cần viết thêm đâu, vì tôi e ngại lời viết sẽ thành sáo ngữ mất. Duy có điều buồn là vì theo dòng thời gian những mất mát, những mai một nhân tài cứ từ từ xảy ra cho làng âm nhạc hoặc văn học Việt Nam của chúng ta. Trong mấy tháng qua có bao nhiêu người đã ra đi từ bỏ thế giới chúng ta rồi? Những người tôi biết tên tuổi cũng như những người có những đóng góp thăng hoa cho đời sống này mà tôi không rỏ về họ lắm. Nhưng tất cả mọi sự ra đi của các thân hữu này đều làm cho chúng ta buồn. Xin anh cho tôi được góp một lời cầu nguyện cho hương hồn Giáo Sư và Nhạc Sĩ Mạnh Bích sớm siêu thoát. MQB"
Tôi nhận được một email khác của nhà thơ Thanh Thanh Lê Xuân Nhuận chia sẻ ý kiến khi nghe tin nhạc sĩ Mạnh Bích lìa bỏ chúng ta như sau:
"Kính anh Việt Hải,... Tôi là một người yêu âm-nhạc (ai mà không yêu âm-nhạc?) nhưng thời-gian tôi "gần-gũi" với nhạc-sĩ (nhạc-tác-gia lẫn nhạc-tấu-gia) và ca-sĩ nhiều nhất là khoảng 1954-1957, lúc tôi làm Trưởng Đài "Tiếng Nói Quân Đội tại Đệ Nhị Quân Khu” ở Huế.
Trong số các Ban của Đài, tất-nhiên có Ban Tân-Nhạc. Vì chương-trình "Tiếng Nói Quân-Đội” được phát trên Đài Huế, mà các làn sóng của Đài Huế thuở đó thì rất mạnh (nghe rõ tận các tỉnh ngoài Bắc lẫn trong Nam), hầu hết nhạc-sĩ và ca-sĩ của Đài Huế đều tham-gia Đài Quân-Đội; và Phòng 5 cấp trên của Đài Quân-Đội Đệ-Nhị Quân-Khu thì rất giàu (trả tiền hậu-hĩ cho văn-nghệ-sĩ) nên có nhiều Ban Nhạc cũng như cá-nhân nhạc-sĩ và ca-sĩ từ Sài-Gòn được mời ra trình-bày trên Đài Quân-Đội Huế, và một số ca+nhạc-sĩ nhờ Đài Quân-Đội Huế nâng đỡ bước đầu để sau đó vào Sài-Gòn là nổi danh. Các nhạc-phẩm nói về Huế và Miền Trung thì được phổ-biến nhiều hơn, và các nhạc-sĩ ca-sĩ gốc Huế hoặc trú tại Huế thì đương-nhiên được đồng-bào địa-phương quen tên biết mặt nhiều hơn.
Đông quá, vui quá; nhưng vì tôi quá bận-bịu về mặt chính-trị (viết bài "Bình-Luân" hằng ngày cho Đài, kiêm biên-tập-viên cho tuần-báo "Tiếng Kèn" và "Bản Tin" hằng ngày cũng như nội-dung tuyên-truyền của các toán "Tác-Động Tinh-Thần” lưu-động hằng đêm, kiêm "Phóng-Viên Chiến-Tranh", v.v... nhất là tự mình ly-khai với Bộ Tư-Lệnh Đệ-Nhị Quân-Khu thân Pháp để hậu-thuẫn cho chí-sĩ Ngô Đình Diệm, rồi xông-xáo vận-động quân-nhân và dân-chúng truất-phế Bảo Đại, v.v...), Ban Tân-Nhạc được khoán cho các nhạc-sĩ trong Đài, từ Lâm Tuyền, Văn Giảng, cho đến Lê Trọng Nguyễn (có sự giúp-đỡ của các nhạc-sĩ tên-tuổi bên ngoài như Nguyễn Hữu Ba, Lê Quang Nhạc, Ưng Lang, Hoàng Thi Thơ, Hoàng Nguyện, Anh Chương, Lê Hữu Mục, Ngọc Linh, Lê Tất Vịnh, v.v...), nên tôi rất tiếc không nhớ là mình đã gặp Mạnh Bích trong trường-hợp nào.
Tuy nhiên, có điều chắc-chắn là nhạc của Mạnh Bích, nhất là bản "Thôn Trăng", là một trong những nhạc-phẩm mà tôi yêu thích nhất. Sau khi tôi đã từ-giã môi-trường văn-học/âm-nhạc trên Đài Phát-Thanh, tôi vẫn nghe Đài, và nghe "Thôn Trăng” được trình-bày rất nhiều lần, theo lời yêu-cầu của đồng-hương và thính-giả gần xa. Có gì vui thỏa cho bằng khi được các giới thưởng-ngoạn yêu thích tác-phẩm của mình...
Sau cùng, kèm theo đây tôi có mấy câu thơ "Tiễn Đưa Mạnh Bích", xin gửi anh, để tùy nghi xử dụng:
Tiễn Đưa
Mỗi lần có một bạn ra đi
Lòng lại ngùi đau nỗi biệt ly
Nhưng, đã góp phần cho cõi thế
Thì di sản đó mãi còn ghi...
Thanh Thanh (Lê Xuân Nhuận)".
Nhà thơ Dương Huệ Anh ở Bắc Cali nghe tin nhà văn Mạnh Bích ra đi, ông làm bài thơ tiễn bạn với ý tưởng như sau:
"LẠI MỘT NGƯỜI ĐI...
Lại một người đi chẳng hẹn về.
Ba mươi,bẩy chục... khác nhau chi?
Thân, sơ... một nỗi niềm u uất,
Già, trẻ... chung tâm sự não nề!
Danh vọng, bạc tiền... đành bỏ lại,
Sắc tài, sự nghiệp...dễ mang đi?
Đưa nhau, mấy nén nhang thơm, ngưyện,
Tịnh Độ nương về, quán Đại Bi!!
DHA".
Nhà văn Tạ Xuân Thạc tại Houston nêu lên những cảm nhận đầu tiên khi đọc sách "Gió Cuốn Mây Bay" của Mạnh Bích:
"Tôi đọc văn của nhà văn Mạnh Bích nghiệm thấy rằng ông áp dụng cả một trời lý thuyết tương quan Đông Tây nếu ta phải đi sâu, cặn kẽ về các nguyên tắc duy Luận lý hay Phân tâm học hay cả Phật học. Ông xoay quanh chủ đề tìm cho mình sự an bình tự tại. Theo lập luận của tác giả Mạnh Bích khi con người sống, họ sống với hai hình thái của giá trị trừu tượng về tâm linh, một là con người thật của chính mình, hai là con người khi mình ra ngoài xã hội, mà có khi con người xã hội kia lại mâu thuẩn với ngay chính mình, với thuyết suy luận bên Đông phương của Khổng Tử cho là "Nhân chi sơ tính bản thiện", đó là con người thực sự của chính ta, theo nếp sống bị xoay vần ngoài xã hội con người thực sự đó mất dần đi bản tính chính thống của chính mình để thành con người của xã hội. Bên phái Phân tâm học của nhà phân tâm Sigmund Freud cũng đưa ra hình thái con người nguyên thủy lúc chào đời, những suy tưởng tâm linh thật là trong trắng, để rồi xã hội tội lỗi mang con người đi xa với bản thể của chính mình, thì theo ý niệm trong văn của Mạnh Bích khi ta đứng giữa nỗi trăn trở, nỗi băn khoăn đó, thì chúng ta không có an bình.
Như vậy để có sự an bình trong tâm hồn, muốn sống thư thái trong sự an nhiên tự tại, ta hãy vui với chính mình, hợp với lý lẽ đạo Trời Đất, chúng ta hãy sống với con người thực của mình. Chính cái giá trị chân thiện mỹ trong kiếp sống vô thường, phù vân này khiến ta trở về với cái giá trị nguyên thủy mà bên Phật giáo quan niệm là rũ sạch bụi trần gian, ta sống với cuộc đời siêu sinh thanh tịnh, hầu giác ngộ bằng trí huệ viên mãn để gỡ bỏ những khổ lụy trầm luân.
Ngày hôm nay nhìn lại những tác phẩm mà Mạnh Bích để lại từ "Giòng Sông Trầm Lặng" đến "Gió Cuốn Mây Bay" là cả một đóng góp phản ảnh cho truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam. Và cũng trong ý tưởng thoát thai từ sách thì sự an bình đã đến với nhà văn, nhà giáo và nhạc sĩ Mạnh Bích của chúng ta để ông tìm được cõi hạnh phúc nơi cuối đời.
Tạ Xuân Thạc cùng các bạn Đồng Tâm DQS, Houston".
Nhạc sĩ Trần Đại Phước đã cho đôi dòng cảm nhận về cá tính của nhạc sĩ Mạnh Bích như người của sự trân quý với đức tính trầm mặc và hòa nhã:
"Nhạc sỹ Mạnh Bích là một thành viên có tuổi, trầm tính, ít lên tiếng trong diễn đàn, nhưng chỉ qua một vài liên lạc chung và riêng, chúng ta có thể nhận ngay ra tác phong tư cách cao cả của ông trong lãnh vực âm nhạc, văn hoá, lẫn xã giao thông thường.
Xin chân thành chia buồn cùng gia đình nhạc sỹ Mạnh Bích và cầu chúc hương hồn ông được về cõi vĩnh hằng cực lạc.
Trần Đại Phước"
Nhạc sĩ Trần Quang Hải cũng là nhà văn hội viên trong tổ chức Văn Bút Âu Châu đã có dịp phỏng vấn nhà văn Nguyễn Mạnh Bích, bài phỏng vấn khá dài tôi chỉ xin trích đoạn về phần bàn về nghề nghiệp và tác phẩm của ông để lại cho đời.
"* Trả lời nhạc sĩ Trần Quang Hải thì sau đây là chi tiết về tiểu sử:
Mạnh Bích (MB) : Tôi sinh năm 1929 ở Thừa Thiên (Trung Việt) . Lúc nhỏ học tiểu học ở trường Vạn Xuân (Thành Nội), và sau đó ở trường Quégnec tại Huế . Khi vào trung học thì học ở Lycée Khải Định (Huế) . Sau khi đậu tú tài, tôi vào đại học, đậu cử nhân giáo khoa văn chương Pháp và cao học văn minh Pháp ở đại học văn khoa Sài Gòn . Tôi đã dạy văn chương Việt ở các trường Pháp như Jean Jacques Rousseau, Marie Curie, Taberd, Regina Pacis ở Sài Gòn và Fraternité ở Chợ Lớn cho đến năm 1975 . Tôi cũng dạy văn chương Pháp ở Đại Học Vạn Hạnh (cấp cử nhân), và Institut Français (các lớp tốt nghiệp) ở Sài Gòn cho đến năm 1975. Khi sang Pháp, tôi dạy văn chương Pháp (cấp trung học) ở các trường Georges Brassens và André Maurois (Académie de Versailles, ngoại ô Paris) từ năm 1984 đến lúc hưu trí vào năm 1995.
* Câu hỏi về học nhạc:
MB : Lúc đầu tiên tôi học nhạc bằng cách chơi đàn với bạn bè : mặng cầm (mandoline) và sáo tre với nhạc sĩ Văn Giảng (là Thông Đạt, tác giả ca khúc « Ai về sông Tương »). Khi Văn Giảng đến học hạ-uy-cầm với Ưng Lang thì tôi học tây ban cầm với Ưng Tiến. Trong thời kỳ này (từ 1942 đến 1949 ở Huế) tôi học thêm nhạc lý với trường hàm thụ ở Paris (Cours universels de correspondance)
- Từ lúc vào Sài gòn, học thêm nhạc lý (hòa âm và sáng tác) với nhạc sĩ Trần văn Lý, đài Pháp Á. Anh Lý là « ông thầy » khai tâm của tôi. Hôm ấy, tôi đem đến cho anh ấy một bản vừa sáng tác « Trở về chốn xưa » (sau này được sửa lại là « Nhà cũ vườn xưa ») anh Lý, tuy vừa ở phòng thâu ra và sắp phải tập dượt tiếp với Anh Ngọc, vẫn cầm lấy để xem. Sau khi đọc qua, anh ấy kéo tôi vào văn phòng và một cách ân cần và dịu dàng phân tích cho tôi nghe là tác phẩm đầu tay của tôi « hoàn toàn hỏng, complètement foutu ». Tôi ngẩn ngơ và rất buồn. Không ngẩn ngơ sao được vì lúc ấy, tôi không hiểu gì cả về những nguyên tắc căn bản của sự cấu tạo giai điệu (phrase mélodique), hòa âm (harmonisation), hợp âm (contre-point) và nhất là cấu trúc (structure) của một bản nhạc. Còn buồn thì tất nhiên rồi vì khi đến, tôi hí hửng tưởng được khen là « tác phẩm đầu tay mà tuyệt tác quá, un coup d’essai valant un coup de maitre ! », đâu ngờ !!! Thấy vậy, anh Lý vỗ vai tôi và khuyên : « Em nên trau dồi thêm về hòa âm để làm nhạc ‘tốt’ hơn. Về cấu trúc, em chỉ cần học thật kỹ thơ Đường » Lại một chuyện lạ nữa. Sao lại phải học thơ Đường, tôi tự hỏi. Anh Lý, hình như đoán biết, liền tươi cười nói : « Thơ Đường có nhiều loại, có thể đem lại cho mình nhiều vần điệu cũng giống như nhạc vậy. Riêng loại thông dụng bốn câu năm chữ, loại tám câu bẩy chữ thì rất cần vì từ đó, mình mới nắm vững được sự cân đối của một bài nhạc. Về học đi »
Mấy tháng sau, nhận thấy tôi có thâm nhập được những lời khuyên của mình, anh Lý giới thiệu cho tôi anh Xuân Lôi (từ Hà Nội vào) và nhạc sư Grégor (pianiste). Theo anh Lý, đấy là hai nhạc sĩ mà anh quí trọng : « anh Xuân Lôi thổi saxo rất điêu luyện vì anh ấy có tâm hồn thi sĩ. Nhờ vậy mà anh ấy chơi nhạc hay. Còn ông Grégor là một giáo sư piano rất bổ ích cho việc soạn nhạc vì ông ấy rất chú trọng về "étude de gammes" (nghiên cứu thang âm hay âm giai)
Dù được soi đường như vậy, chuyện âm nhạc của tôi vẫn nằm trong nguyên lý văn chương trong truyền thống của gia đình : người có học (instruit) thì phải biết nhiều nghề (sĩ kiêm bách nghệ), nói cho gọn là phải biết hưởng BỐN sinh thú tinh thần : cầm, kỳ, thi, họa. Có bạn văn chương chưa đủ, phải có thêm bạn đờn, đấy là lời dạy bảo được lưu truyền từ đời ông-nội của tôi. Cho nên, tôi không bao giờ có ý định trở thành instrumentiste, cũng như cố leo lên bậc cao cấp của việc « học nhạc ». Tôi học tây–ban-cầm, cũng như dương cầm, cũng như măng cầm (mandoline) hay thổi sáo tre chỉ đến trình độ xoàng xĩnh, tầm thường, có thể xếp vào hạng chơi vớ vẩn vậy thôi. Có nghĩa là âm nhạc, đối với tôi, kể cả lúc viết nhạc, chỉ là một thú tiêu khiển như viết văn.
* Những nhạc phẩm của Mạnh Bích:
Trong thời kỳ này (1949-1981) tôi chỉ viết vỏn vẹn có những bài này:
- Dưới bóng dừa (với Y Vân)
- Cánh phượng (với Võ đức Tuyết)
- Tâm tư (với Hoàng Lang)
- Thư người chiến binh (với Nguyên Diệu)
- Về miền núi cao
- Những cánh mai vàng
- 10 ca khúc « Tiếng hát trong tù » : Tình ca người vượt biển, Ngoài song, Không bao giờ em khóc, Đón mẹ, Quà đau thương, Mưa buồn thế hệ, Giọt sương, Trăng mờ Ma Liêng, Giáng sinh Ma Liêng, Một ngày mai.
* Những nhạc phẩm phổ từ thơ:
MB : Sau này, khi tôi bắt đầu hoạt động văn hóa tại Pháp, tôi quay sang lối viết bằng cách « phổ nhạc vào thơ » . Nguyên nhân là khi tôi nhận được một thi phẩm của một nhà thơ nào gửi đến tặng thì tôi cám ơn bằng cách « phổ nhạc » một vài bài tôi ưa thích nhất. Loại nhạc này được tôi xếp vào loại « Tình thơ ý nhạc » còn loại của tôi sáng tác trọn vẹn cả nhạc lẫn lời thì thuộc loại « Tình ca »
- Anh ghép tên em vào tên anh (Hồ trọng Khôi, 1991)
- Buồn xưa (Tùy Anh, 1996)
- Đà Lạt yêu (Vũ Thi An, 1998)
- Hoài hương (Minh Tâm, 1997)
- Lẵng hoa trong mộng (Tuệ Nga, 1996)
- Màu thơ tôi (Hoài Việt, 1990)
- Ngày xưa (Tuệ Nga, 1996)
- Những giọt sương (Tùy Anh, 1998)
- Tình già (Hoài Việt, 1990)
- Ước thầm (Vũ Thi An, 1998)
- Về động Đào hoa (Phạm thị Nhung, 1998)
- Chốn cũ vườn xưa
- Cho tôi một ngày
- Nhớ Sài gòn
- Về với Paris
- Mẹ
* Về viết sách:
MB : Viết sách là động cơ chính cho sự hoạt động văn hóa của tôi ở Pháp. Lúc đầu, từ khi ở trên đất Pháp, vì bận việc dạy học, tôi chỉ viết những quyển « Le douloureux voyage » (tâm sự lưu vong nói với con cháu) « Promenade dans leurs jardins » (dịch thơ hay của các bạn thơ) để dành cho con cháu, bạn bè thân xem chứ không cho phổ biến. Chỉ bắt đầu từ năm 1997, sau biến cố lớn lao và đau buồn của Văn bút Việt nam hải ngoại, tôi mới nghĩ đến việc phổ biến tư tưởng văn học của mình. . Bản tiếng Pháp tựa là « Le Viêt nam crucifìé » được Giải thưởng Văn chương đặc biệt của Hội Văn gia Pháp ngữ Quốc tế năm 2001.
Những tác phẩm khác như « Những tâm hồn nổi loạn, Người công dân thế kỷ 21 » được viết cho lứa tuổi vị thành niên cũng nằm trong luận điệu ấy. Hai quyển « Tam giáo và Việt tính » (khảo luận) và « Lá rụng » (triết lý) chỉ có liên quan đến vấn đề « tĩnh lặng của tâm hồn ». Những bài báo của tôi thường lấy trọng tâm « Việt tính » mà thôi, kể cả những bài viết có tựa đề là « Chuyện tào lao » với biệt hiệu Ô.L.A."
Khi nhạc sĩ Mạnh Bích ra đi thì nhạc sĩ Trần Quang Hải đang làm chuyến lưu diễn trên ba tiểu bang của Mỹ quốc. Anh cho thấy niềm luyến tiếc một nhân tài, một văn hữu và một nhạc sĩ có tâm hồn yêu quê hương, anh đã tâm sự cùng tôi khi điện đàm mà anh cung cấp các internet link cho tôi viết bài.
Từ Minneapolis, nhà văn biên khảo Nguyễn Văn Thành nhận xét về sự ra đi của nhà văn Mạnh Bích như sau:
"Trước sự ra đi của cố nhạc sĩ Mạnh Bích, chúng ta thật thương tiếc một nhân tài trong nền văn học Việt Nam qua văn, thơ, nhạc… Đôi giòng về giòng nhạc trong tình yêu của Mạnh Bích nói lên sự thủy chung son sắt qua nhạc phẫm "Không Bao Giờ Em Khóc", tâm trạng của những người vợ chờ chồng đi học tập cải tạo, dù sông núi chập chùng, dù gió mưa hiểm trở, em vẫn đi tìm anh trong màu nắng quắt những ân tình xưa, em vẫn chờ anh dù tuổi xuân có qua đi bằng con tim u hoài, tấm lòng người vợ cố nén những giọt nước mắt để vượt qua những đau buốt tái tê trong duyên phận.
Chờ anh mãi mãi, bằng con tim u hoài
Chờ anh cho dẫu... sắc hương có tàn phai
Nhưng không bao giờ em khóc, cho dù...
Cho dù nắng đốt cháy tuổi xanh
Cho dù gió buốt tái tê duyên lành !
Sự gặp gỡ như Ngưu Lang Chức Nữ qua những lần vượt ngàn dặm viếng thăm, gặp nhau trong nước mắt lưng tròng, nhưng tình yêu dành cho anh vẫn muôn trùng, bóng dáng anh vẫn muôn đời trong cuộc đời người vợ sắt son.
Nhưng anh ơi, như Chức Nữ gặp chàng Ngưu
Anh anh ơi, khi chúng ta gặp lại nhau
Thì anh, thì anh sẽ nhìn trong khóe mắt lệ đoanh tròng
Có bóng anh yêu muôn đời
Với ánh sáng trên làn môi
Nàng chờ đợi ngảy tương phùng sẽ cùng chàng nhấp men tình, cả hai sẽ hòa chung những giòng lệ tràn đầy khóe mắt, Em sẽ chờ và sẽ mãi mãi chờ đợi anh.
Chờ ngày hôm ấy, ngày đôi ta tương phùng
Lệ tràn đôi má chúng ta sẽ hòa chung
Em, em sẽ cùng anh nhấp men tình
Qua vị nước mắt ướt ven môi
Trong màu sáng chói ánh sao đổi ngôi
Em đang chờ anh, em sẽ chờ anh mã