Music news from a Vietnamese traditional musician

Category » Nhạc mới

Học Trò : Tìm hiểu nghệ thuật sáng tác của nhạc sĩ Phạm Duy, phần 2

 Tiếp tục giải mã một ca khúc khác của nhạc sĩ Phạm Duy để thấy thêm về việc vận dụng thanh âm ngũ cung và sự chuyển hệ...

 
document.all('IDM_Category_'.concat(5881)).style.display='';
Tìm hiểu nghệ thuật sáng tác của nhạc sĩ Phạm Duy
Phần 3. Sáng Tác Theo Ngũ Cung... (tiếp theo)
06:56' 05/01/2007 (GMT+7)


Phần 1 : Phần 2 : Phần 3 : Phần 3b :

3.Giải mã "Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà" dựa theo ngũ cung

Nếu xem nguyên bản "Đồi tím Hoa Sim" ta thấy bài thơ dài gần hai trang giấy này có rất nhiều tình tiết, ý tưởng. Khi phổ nhạc, nếu có quá nhiều tình tiết như vậy mà chỉ dùng một thang âm trưởng hoặc thứ thì sẽ không lột tả được hết màu sắc của bản nhạc.

Nhạc sĩ Phạm Duy đã sử dụng ba thang âm chính - theo định nghĩa Tây phương - là Do trưởng, Do thứ, và La thứ. Để sắp xếp chúng đi từ thang âm này sang thang âm khác một cách nhuần nhuyễn và hợp lý, ông đã chọn theo thứ tự sau (xin xem phần một nội dung của [A], [B], v.v.):

A]Cm -> [B]C -> [C]Am -> [D]Am -> [E]C -> [F]Cm -> [A']Cm -> [G]C -> [H]C.

Thêm vào đó, nhạc sĩ đã tài tình thay đổi tiết tấu để làm bài nhạc sinh động, mà vẫn rất hợp lý như sau:

[A]4/4 -> [B]2/4 -> [C]6/4 -> [D]4/4 -> [E]3/4 -> [F]3/4 -> [A']4/4 -> [G]4/4 -> [H]4/4.

Sau đây là vài giải thích ngắn về cách soạn nhạc theo thất cung hay ngũ cung của nhạc sĩ, cũng như vài ý kiến khác về tiết tấu, v.v... (Xin xem trước bài viết "Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà" [4] về các nhận xét khác của tôi về nhạc phẩm này.)

Soạn: HA 997375 gửi đến 996 để nhận ảnh này
 
Đoạn A và A'

Vì lý do câu 2 (nàng có đôi người em) là một nốt quãng 6 của hợp âm Fm, ta có thể nói nhạc sĩ dùng thang âm thất cung Do thứ trong đoạn này. Ngoài ra, nốt nhạc lạ tai như si flat của hợp âm G7 cũng là hòa âm tây phương để G7 (hay G sus4 như ký hiệu trong bài) có thể hóa giải về Cm. Nhắc lại, để có thể chuyển từ âm giai thứ qua âm giai trưởng một cách nhẹ nhàng, nhạc sĩ đã tránh dùng nốt mi giáng lúc gần cuối câu (người em gái tôi yêu, người em gái tôi yêu, người em gái tôi yêu ...)

Đoạn B

Đoạn B có thể nói là một thí dụ tiêu biểu về cách viết nhạc ngũ cung. Đoạn được xây dựng với ngũ cung Sol La Do Re Mi (C/Am), thể #1. Vì là thể 1, nên nghe rất rõ, rất hùng dũng. Điều này cũng hệt như trong nhạc Tây phương, nếu ta đánh hợp âm ở một thể chính (do mi sol), thì nghe hùng dũng hơn là ở các thể đảo của nó (mi sol do, hay sol do mi.) Câu nhạc bắt đầu bằng cách sử dụng 3 nốt sol, do và la, sau đó nét nhạc chuyển dịch lên do mi re, và sau cùng luyến láy rất cầu kỳ (tôi mới từ xa, nơi đơn vị về: re mi do re, do do sol sol ...) đoạn nhạc [B] được lặp lại hai lần gây chú ý cần thiết và diễn tả hết các chi tiết của ngày cưới.

Các nốt chính trong hợp âm trưởng (do mi sol) được dùng nhiều hơn, thành ra câu nhạc nghe như Do trưởng của thất cung, nhưng thực ra nhạc sĩ lại viết trên nền tảng của một thang âm ngũ cung. Hai nốt re và la xuất hiện ít, và được dùng như các nốt tạm.

Đoạn C

Sang đoạn C, nhạc sĩ dùng âm giai La thứ, vì trong nhạc có nốt la ở nhịp mạnh trường canh đầu, và ông cũng dùng nhiều nốt si để hóa giải câu nhạc từ E7 về Am.

Đoạn D

Đoạn này, nhạc sĩ lại dùng ngũ cung C/Am lần nữa, nhưng với biến thể #5 Mi Sol La Do Re (la la do mi la do do). Tiếp theo, nhạc sĩ dùng thể #1 Sol La Do Re Mi trong câu 2 (re re mi, la re mi mi) và chuyển dịch câu nhạc đi lên hai lần. Kế tiếp, ông chuyển ngũ cung sang thể #3 Sol La Si Re Mi của ngũ cung G/Em (si si re, sol do re re) trước khi trở về thất cung do trưởng.

Soạn: HA 997373 gửi đến 996 để nhận ảnh này
 
Đoạn E

Bây giờ thì có lẽ bạn đã nhìn quen thang âm ngũ cung rồi? Đoạn này, nhạc sĩ Phạm Duy dùng ngũ cung C/Am hai lần (tôi về không gặp nàng, má ngồi bên một vàng), rồi chuyển qua G/Em (chiếc bình hoa ngày cười, đã thành chiếc bình ...) và trở về C/Am ở chữ "hương."

Đoạn F

Như đã nói ở phần chuyển hệ, vì trong thang âm C/Am không chứa thang âm Eb/Cm, nên rất khó chuyển về. Nhạc sĩ đã dùng hai nốt do và mi giáng để bất ngờ chuyển từ Do trưởng sang Do thứ. Câu này rất ăn khớp (prosody) với lời nhạc: nhà thơ Hữu Loan buồn nhớ đến những kỷ niệm vui, thì thực tại buồn bã (reality strucked) là người vợ đã qua đời mà chẳng được nói một lời. Cách đặt hòa âm cũng thú vị, chuyển động chậm đi xuống trên một nền hai nốt nhạc trơ lì.

Đoạn G

Đoạn này lại cũng là ngũ cung C/Am. Xin xem thêm [4] về cách nhạc sĩ dùng cung nhạc.

Đoạn H

Ở đoạn cuối, thang âm do trưởng được sử dụng với nốt la giáng thêm vào, và cuối cùng là một loạt các chuyển cung mạnh mẽ từ Do sang Re rồi Do, ... làm giai điệu có vẻ rất chủ thể, rất mạnh mẽ. Ta thấy, mặc dù ngũ cung C/Am được dùng rất nhiều, ta nghe vẫn thấy mới lạ và không nhàm tai, một phần vì nhạc sĩ sử dụng các thể đảo khác nhau, phần khác nhờ vào tài năng viết nhạc của nhạc sĩ. Điều đáng nói là, cũng hệt như không ai biết chạy trước khi biết đi, hệ thang âm ngũ cung là một nền móng vững chắc mà người tập sáng tác nào cũng nên biết thấu đáo trước khi viết được một bản nhạc hay, nhất là nhạc có âm hưởng dân ca.

Học Trò

http://hoctro.blogspot.com/

 

(Còn tiếp)

http://www.giaidieuxanh.vietnamnet.vn/bantron-amnhac/2007/01/650635/ 

 

 
document.all('IDM_Category_'.concat(5881)).style.display='';
Tìm hiểu nghệ thuật sáng tác của nhạc sĩ Phạm Duy
Thay lời kết
02:48' 06/01/2007 (GMT+7)
 
 
 
Soạn: HA 997385 gửi đến 996 để nhận ảnh này
 

Bạn vừa theo dõi xong những gì tôi thu thập được sau khi đọc quyển sách

"Đường Về Dân Ca". Nhạc Ngũ Cung và thuật chuyển hệ mà tôi trích dẫn ở đây chỉ là một phần nhỏ những gì nhạc sĩ Phạm Duy đề cập đến trong quyển sách ấy.

 

 

Phần 1 : Phần 2 : Phần 3 : phần 3b : Phần kết

 

Tuy trong phần "Phạm Duy và Dân Ca Kháng Chiến," ông có giải thích cặn kẽ những nhạc thuật đã dùng trong "Nhớ Người Thương Binh", "Dặn Dò", "Mùa Đông Chiến Sĩ", và "Tiếng Hát Trên Sông Lô," nhưng những tác phẩm quan trọng hơn như "Trường Ca Con Đường Cái Quan" hay "Trường Ca Mẹ Việt Nam", mà theo ông thì "có sự pha trộn của hàng trăm hệ thống nhạc ngũ cung khác nhau" thì không có thí dụ nào hết, tạo cho những kẻ hậu sanh như tôi một niềm tiếc nuối sâu xa.

 

"Minh Họa Kiều" cũng vậy, vì được sáng tác sau khi "Đường Về Dân Ca" ra đời, nên không có mặt trong quyển sách ấy, thật đáng tiếc. Tôi rất hy vọng ông bỏ thời giờ quý báu ra để viết một quyển sách mới lấy tư liệu từ "Đường Về Dân Ca" và thêm vào nhiều hơn phần áp dụng dân ca và nhạc ngũ cung vào nhạc của ông (kèm theo một CD với nhạc minh họa cho các giai điệu được thí dụ trong sách) để hậu thế có một tài liệu quý báu.

 

Gần đây, tôi mua được ở nhà sách Tự Lực, California quyển "Nhớ", và "Sự Hình Thành của Tân Nhạc Việt Nam" ông viết sau khi hồi hương (2005 - NXB Phương Nam ấn hành.) Hy vọng quyển sách mới tiếp theo sẽ là "Phạm Duy và Nhạc Dân Ca/Ngũ Cung."

 

Ta hãy xem ông viết trong câu cuối phần "Phạm Duy và Dân Ca Kháng Chiến":

"Đối với một người sáng tác, sự trưng bày lề lối làm việc của mình lắm khi là một việc quá thừa và vô ích.

Nhưng vì lý do tôi muốn dẫn dắt tuổi trẻ đi vào đường lối soạn dân ca Việt Nam cho nên tôi đã phải phân tích cặn kẽ nhạc thuật mà tôi đã sử dụng bấy lâu nay. Mong rằng tuổi trẻ tiếp thu kỹ lưỡng."

 

Với một người có gần một ngàn bản nhạc, với chỉ mười bốn trang sách mô tả về nhạc thuật (trong phần "Phạm Duy và Dân Ca Kháng Chiến") phỏng có ít lắm chăng? Một người mà cả sự nghiệp đã vinh danh và thăng hoa nhạc dân ca như ông, sự xuất bản một quyển sách mới chuyên về nhạc với nhiều trang bổ sung về nhạc thuật của ông sẽ là một món quà tinh thần quý báu ông trao tặng cho chúng ta, nhất là lớp trẻ. Tôi thực sự tin như vậy.

 

  • Học Trò (8/2006) Blog: http://hoctro.blogspot.com/
    Soạn: HA 997387 gửi đến 996 để nhận ảnh này
     

***

PHỤ LỤC:

[1] Tìm hiểu nghệ thuật sáng tác nhạc qua ca khúc "Hoa Rụng Ven Sông" của nhạc sĩ Phạm Duy - Tiểu Luận

của Học Trò. Link: http://dactrung.net/baiviet/noidung.aspx?BaiID=FpnbnB9rg73quvcqjUuhdg%3d%3d

[2] Ns Phạm Duy cho ta thí dụ bài Hòn Vọng Phu (Phần thứ Nhất) của nhạc sĩ Lê Thương là sự kết hợp của

ngũ cung Do Re Fa Sol La và thất cung với âm thể Re Mineur.

Nhạc phẩm Hòn Vọng Phu (Phần 1) - (Nguồn: email từ Ns Phạm Duy)

[3] Đây là toàn văn giải thích của nhạc sĩ về cách sử dụng ngũ cung trong nhạc phẩm "Hoa Rụng Ven Sông":

"Một nhạc đề ngũ cung (re mi sol la si) tạm gọi là đoạn A, với nét nhạc đi lên và ngưng ở cung re, nhắc lại một chuyện tình đã vỡ…

Giờ đây trên sông hoa rụng tơi bời

Giờ đây em ơi cơn mộng tan rồi

Lòng anh tan hoang thôi vỗ tình ơi

Ngày như theo sông bóng xế tàn rơi…

Đoan B là một nhạc đề ngũ cung khác với môt “dáng nhạc” (melodic contour) được nhắc đi nhắc lại để nhấn mạnh tới cuộc tình mùa thu ngày xưa của anh và em :

Còn đâu em ơi?

Còn đâu ánh trăng vàng

Còn đâu ánh trăng vàng

Mơ trên làn tóc rối…

Còn đâu em ơi?

Còn đâu bước chân người

Còn đâu bước chân người

Mơ trên đường chiều rơi…

Tôi trở lại đoạn A để (theo lời thơ) nói thêm vào ngày xưa và ngày nay của cuộc tình :

Còn đâu đêm sang lá đổ rộn ràng

Còn đâu sương tan trăng nội mơ màng

Còn đâu em ngoan tóc rối ngổn ngang

Tuổi em đôi mươi, xuân mới vừa sang…

 

Bây giờ thì tôi thêm một nhạc đề khác với đoạn C. Từ ngũ cung re mi sol la si, tôi nhẩy qua nhạc đề minơ si re fa# si và mi sol si mi… bởi vì mộng đã tan, tình đã nhạt, và thơ ngây cũng chẳng còn trên đôi má của em nữa !

Còn đâu em ơi?

Còn đâu giờ nhung lụa

Mộng trùm trên bông

Tỉnh nồng trên gối…

Còn đâu em ơi?

Còn đâu mùi cỏ dại

Chút tình thơ ngây

Không còn trên đôi má..

Và ca khúc kết thúc với nhạc đề của đoạn A một cách rất hợp lý (logic) và cổ điển (classic) :

Giờ đây trên sông hoa rụng tơi bời

Giờ đây em ơi cơn mộng tan rồi

Lòng anh tan hoang thôi vỗ tình ơi

Ngày như theo sông bóng xế tàn rơi…

Nguồn: tài liệu riêng của tôi do ns Phạm Duy gửi tặng "Phạm Duy

Phổ Thơ Lưu Trọng Lư." Tôi đã đưa lên mạng internet ở địa chỉ sau:

http://dactrung.net/baiviet/noidung.aspx?BaiID=FpnbnB9rg73quvcqjUuhdg%3d%3d

[4] Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà - Vài Nhận Xét của Học Trò. Link: http://hoctro.blogspot.com/2006/08/oanh-

st-ch-ng-t.html

 

ÁO ANH SỨT CHỈ ĐƯỜNG TÀ

Trong phần đầu của bài viết hai phần này, tôi xin được nêu một số nhận xét về nhạc phẩm"Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà", do nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc năm 1970 từ thơ Hữu Loan. "Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà" trung thành với nguyên bản "Màu Tím Hoa Sim," tức là theo lối kể chuyện. Bản nhạc có rất nhiều ý nhạc khác nhau, cũng như chuyển time signature nhiều lần, và dùng phương pháp chuyển hệ (metabole) rất tài tình từ thứ sang trưởng rồi lại trở về thứ, rồi từ time signature này sang time signature khác (4/4->2/4->6/4->3/4) rất nhanh lẹ mà ta nghe vẫn không thấy ngỡ ngàng chi hết. Sở dĩ phải có các kỹ thuật trên, theo tôi cũng chính vì nhạc theo lối kể chuyện, và tình tiết thì éo le lắm, và tả cảnh, tả người, v.v. nữa, nên nhạc thuật phải rất phong phú. Hơn nữa, sau viên ngọc toàn bích "Tình Ca" thực cô đọng, và hai trường ca phong phú Con Đường Cái Quan và Mẹ Việt Nam, Ns Phạm Duy hẳn đã tiếp tục chinh phục giới thưởng ngoạn miền Nam qua tình khúc không dài mà cũng chẳng ngắn này, vì nó không những mang âm hưởng Việt Nam sâu đậm mà cũng chứa đựng nhiều kỹ thuật viết nhạc tinh xảo - nhưng khi nghe lại thấy rất dễ nghe cũng như dễ dàng ăn sâu vào lòng người.

***

Trước tiên xin bạn đọc thưởng thức lời và nhạc. Phần [A], [B], v.v. là do hoctro đặt thêm để tiện so sánh:

Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà

(Thơ: Hữu Loan - Nhạc: Phạm Duy)

Saigon 1970

[A]

Nàng có ba người anh đi bộ đội lâu rồi!

Nàng có đôi người em có em chưa biết nói

Tóc nàng hãy còn xanh, tóc nàng hãy còn xanh...

Tôi là người chiến binh xa gia đình đi kháng chiến

Tôi yêu nàng như yêu người em gái tôi yêu

Người em gái tôi yêu, người em gái tôi yêu.

[B]

Ngày hợp hôn tôi mặc đồ hành quân

Bùn đồng quê bết đôi giầy chến sĩ

Tôi mới từ xa nơi đơn vị về

Tôi mới từ xa nơi đơn vị về

Nàng cười vui bên anh chồng "kỳ khôi"

Thời loạn ly có ai cần áo cưới?

Cưới vừa xong là tôi đi.

Cưới vừa xong là tôi đi ...

[C]

Từ chốn xa xôi nhớ về ái ngại

Lấy chồng chiến binh mấy người trở lại?

Mà nhỡ khi mình không về

Thì thương người vợ, bé bỏng chiều quê.

[D]

Nhưng không chết người trai chiến sĩ

Mà chết người gái nhỏ miền xuôi

Nhưng không chết người trai chiến sĩ

Mà chết người gái nhỏ miền xuôi

Nhưng không chết người trai chiến sĩ

Mà chết người gái nhỏ miền xuôi

Hỡi ôi ! Hỡi ôi !

[E]

Tôi về không gặp nàng

Má ngồi bên mộ vàng

Chiếc bình hoa ngày cưới

Đã thành chiếc bình hương

Nhớ xưa em hiền hoà

Áo anh em viền tà

Nhớ người yêu mầu tím

Nhớ người yêu mầu sim!

[F]

Giờ phút lìa đời

Chẳng được nói một lời

Chẳng được ngó mặt người!

[A']

Nàng có ba người anh đi bộ đội lâu rồi!

Nàng có đôi người em, những em thơ sẽ lớn

Tóc nàng hãy còn xanh, tóc nàng hãy còn xanh

Ôi một chiều mưa rừng nơi chiến trường Đông Bắc

Ba người anh được tin người em gái thương đau

Và tin dữ đi mau, rồi tin cưới đi sau.

[G]

Chiều hành quân qua những đồi sim

Những đồi sim, những đồi sim, đồi tím hoa sim

Tím cả chiều hoang biền biệt ...

Rồi mùa Thu trên những dòng sông

Những dòng sông, những dòng sông làn gió Thu sang

Gió rờn rợn trên mộ vàng

Chiều hành quân qua những đồi sim

Những đoàn quân, những đoàn quân và tiếng quân ca

Có lời nào ru ời ợi!

[H]

À ơi ! À ới ! Áo anh sứt chỉ đường tà

Vợ anh chết sớm, mẹ già chưa khâu!

Những đồi sim, những đồi sim, đồi tím hoa sim

Đồi tím hoa sim, đồi tím hoa sim

Đồi tím hoa sim, đồi tím hoa sim

Đồi tím hoa sim ...

***

Đọc qua hết lời nhạc và nguyên bản bài thơ, ta thấy nhạc sĩ Phạm Duy đã rất trung thành với bản gốc, không thêm thắt những chi tiết mới, chỉ xắp xếp lại cho gọn ghẽ và phù hợp với nhạc. Trong đoạn [A] chẳng hạn, chỉ có những thêm thắt cần thiết được đưa vào chủ đích là để điền đầy câu nhạc, đồng thời nhấn mạnh bằng cách lặp lại 2-3 lần những ý quan trọng: "tóc nàng hãy còn xanh", hay "tôi yêu nàng như yêu người em gái." Riêng "tóc nàng hãy còn xanh", khi lập lại như vậy đã phỏng được tiếng kêu than, oán trách trời xanh về sự từ trần đột ngột của người vợ trẻ. Ta sẽ thấy tiếng kêu than này được lặp lại lần nữa trong đoạn [A']. Đây chỉ là một thí dụ, để tránh nhàm chán tôi để bạn đọc so sánh và tìm ra những chi tiết tương tự trong các đoạn còn lại.

***

Trong đoạn [B], nhạc từ chậm buồn đã chuyển sang thể hành khúc 2/4, mạnh, tươi vui và sáng sủa. Mọi chi

tiết được mô tả dồn dập, một phần cũng là vì ns Phạm Duy đã khéo chọn những danh từ, động từ "gọn" rồi

cho chúng rơi vào nhịp mạnh của trường canh: hành quân, xa, về, cười vui, xong, đi. Bạn thấy đó: xa, về, xong, đi, nhanh như một giấc mơ. Cấu trúc các câu nhạc cũng ngắn, chỉ có 3->4 chữ: tôi mới từ xa, nơi đơn vị về, cưới vừa xong, là tôi đi, v.v. tạo nên một trạng thái dồn dập, khẩn trương, đúng hệt như tác phong quân ngũ.

***

Đoạn [C]->[F] cần một nghiên cứu kỹ lưỡng hơn để cho thấy cách nhạc sĩ đã chuyển đổi trạng thái tâm lý từ vui [B] sang buồn, oán thán, lắng đọng bằng cách dùng tiết tấu và chuyển hệ ra sao. Ngoài ra, tôi cũng để ý là khi nói về "nàng" thì nhạc sĩ dùng âm giai thứ (mảnh mai) để diễn tả, trong khi nói về "cái tôi" hoặc về các chiến sĩ thì phần lớn ông dùng âm giai trưởng (khỏe mạnh, dứt khoát.)

Tôi đặc biệt thích đoạn [E], tiết tấu valse, dịu dàng và buồn:"áo anh em viền tà, nhớ người yêu màu tím, nhớ người yêu màu sim." Rất cảm động!<