Tên cha là Khê, tên mẹ là Sương. Giọt sương đến với dòng suối dể trở thành cội nguồn cho một biển cả sáng làng . Bao nhiêu niềm vui và kỳ vọng của cha mẹ đã đặt vào đứa con đầu lòng mang tên Quang Hải .
Cậu bé nhỏ xíu có thể hào hứng hát múa hàng giờ không “phanh” lại được, cho đến khi cha “xót ruột” phải ôm cậu vào lòng vỗ về cho dịu bớt cơn hưng phấn nghệ thuật ở cậu. Xuất thân từ một gia đình đã bốn đời nổi danh về âm nhạc dân tộc, người đại diện đầu tiên của thế hệ thứ nǎm bỗng muốn “rẽ ngang” theo con đường âm nhạc phương Tây. Sang Pháp sống với cha sau 6 nǎm học violon tại Trường Âm nhạc Quốc gia Sài Gòn, cậu vẫn đem theo giấc mộng của tuổi 17: trở thành nghệ sĩ độc tấu violon.
Luôn tôn trọng tính độc lập của con, người cha đã chọn “nước cờ” thật khôn khéo khi thu xếp cho con trai gặp thẳng Y. Menuhin - bạn ông, một nhạc sư violon lừng danh thế giới, rồi kiên nhẫn đợi chờ ngày con tự nguyện đến với âm nhạc dân tộc. Chính ông còn đi con đường vòng xa hơn - qua trường Y, trường Chính trị, trường Luật - trước khi trở về thực sự gắn bó cuộc đời mình với âm nhạc dân tộc đó sao.
Vậy là chàng trai trẻ đã “trổ tài” trước thần tượng của mình trên chính cây đàn của Menuhin, để rồi nhận được một lời khuyên thẳng thắn: người Pháp không cần thêm một nhạc công violon gốc Việt khi họ đã có cả trǎm ngàn violonist cỡ đó, nhưng họ cần một chuyên gia về âm nhạc Việt Nam như giáo sư Trần Vǎn Khê. Bỏ ra 10 nǎm theo học cha mình để trở thành người thầy dạy lại cho người Pháp về âm nhạc Việt Nam, lại chẳng hơn ư?
Sau này nhắc lại sự kiện đáng ghi nhớ cho cả cha và con, cái ngày quyết định dẹp cây đàn violon cùng nỗi buồn để xin cha cho theo học đàn tranh, chẳng biết giáo sư Trần Quang Hải có “xạo” chút cho vui không khi tiết lộ rằng ông đã chắp tay quỳ xuống như một môn sinh xin sư phụ cho được thụ giáo, kèm thêm lời phụ chú: “Quỳ trong nhà hổng ai thấy!”.
8 nǎm sau đó, vừa là học trò suất xắc nhất, vừa là trợ giáo đáng tin cậy của cha tại Trung tâm nhạc học Phương Đông (Paris), Trần Quang Hải còn hoàn thành chương trình học tập về ngôn ngữ, vǎn học - nghệ thuật và âm nhạc tại các trường đại học Nghiên cứu khoa học xã hội, Louvre, Sorbonne (Paris), Cambridge (London), và còn học truyền khẩu truyền ngón từ nhiều nghệ nhân đàn dân tộc á, Âu. Tiếp thu nhanh, trí nhớ tốt, thêm cái “gien” âm nhạc con nhà nòi, Trần Quang Hải lại may mắn được sống kề bên một nhà sư phạm lớn, một chuyên gia lớn. Cha truyền cho con những điều cần biết vào bất cứ giây phút nào, không lệ thuộc giờ giấc, bài giảng như đối với các sinh viên thông thường. Chẳng người đỡ đầu nào lý tưởng hơn, chẳng người hướng dẫn nào biết rõ hơn cha những gì đứa con cần học hỏi tích lũy trong một thời gian ngắn nhất mà hiệu quả cao nhất. Làm việc tại Viện Bảo tàng Con người qua sự giới thiệu của cha, chàng tuổi trẻ chí lớn ấy đã “ngốn” luôn cả kho tàng bǎng đĩa âm nhạc dân gian để bù đắp cho hoàn cảnh sống xa quê hương, xa môi trường sinh hoạt âm nhạc dân tộc. Không bỏ qua mọi lợi thế hơn người, cộng thêm những nỗ lực bản thân - chắc chắn cũng hơn người, quả như lời khuyên của nhạc sư người Pháp nǎm xưa, Trần Quang Hải đã trở thành tiến sĩ dân tộc nhạc học người Việt thứ hai, sau cha mình, trên diễn đàn âm nhạc quốc tế.
Cây con mau lớn đã vươn mình khỏi bóng che chở của cây đại thụ. Song, trong mối quan hệ đồng nghiệp giữa hai vị giáo sư danh tiếng này, giáo sư - ba vẫn âm thầm dành cho giáo sư - con mọi nỗi niềm của người cha. Vẫn những niềm vui nỗi lo theo từng bước đi trong cuộc đời và sự nghiệp của con, như thuở nào ông từng vui khi con biết thương ba dè xẻn từng đồng ǎn học, tự kiếm việc rửa bát thuê để có tiền học thêm và mua quà gửi về cho mẹ với các em, như thuở nào ông từng tự hào xen lẫn lo ngại vì sự nổi trội quá dễ dàng của con trai trong mọi lĩnh vực, học hành cũng như chơi thể thao... Sau này, vẫn không ngừng chia sẻ cùng con mọi kinh nghiệm, tư liệu nghiên cứu và quan điểm sống, ông lặng lẽ gom góp mọi kỷ niệm vui buồn giữa hai cha con. Cha nâng niu tình cảm của con trong từng câu thơ và cũng gửi vào thơ bao điều muốn nhắn nhủ. Riêng với chuyện thơ phú họ cũng làm nên kỷ lục đáng nể: trong một lần cùng công du, cha con lần lượt “kẻ xướng người họa” tổng cộng 28 bài thơ gửi qua khe cửa buồng khách sạn và cuộc đối đáp tay đôi đó còn được làm tròn số bằng hai bài thơ ứng tác trên chuyến bay trở về. Cha xúc động mỗi khi con thuyết trình trên diễn đàn quốc tế đầy tự tin, sinh động và hài hước, mà vẫn chưa hết lo âu trước những hǎng hái tuổi trẻ dễ đi đến xốc nổi ở con. Cha vô cùng day dứt khi con bất chấp hậu quả khôn lường quyết định cho rọi X-quang vào họng mình để tận mắt tìm hiểu cách vận hành “bộ máy” phát âm của con người. Việc làm này, nói theo cách của giáo sư Trần Quang Hải, là hành động “cảm tử để người sau tiến xa”, đã đem lại hiệu quả to lớn cho công trình nghiên cứu độc đáo về lối hát cùng lúc hai giọng.
Từ những điều thừa hưởng của cha đến tư chất và biệt tài của riêng mình, từ vốn kinh nghiệm hiểu biết của con người từng trải đến sự nǎng động thức thời của một tính cách trẻ trung, từ nguyên tắc khoa học chính xác của phương Tây đến sự linh hoạt tế nhị kiểu phương Đông... tất cả như được dung hòa hết sức tự nhiên trong một con người đa nǎng. Với vai trò nhà nghiên cứu, nghệ nhân biểu diễn, nhạc sĩ sáng tác, người diễn thuyết, nhà sư phạm... giáo sư Trần Quang Hải là người tiếp sức cha mình giới thiệu âm nhạc Việt Nam trên thế giới, đồng thời phát triển công việc nghiên cứu và thực hành âm nhạc dân tộc trên diện rộng. Nhiều công trình của ông đã đạt hiệu quả ứng dụng cao trong ý nghĩa liên ngành giữa âm nhạc học với nhiều môn khoa học khác, như âm thanh học, dân tộc học, xã hội học, tâm lý học, y học, tin học...
Mong muốn truyền bá và làm mới nghệ thuật biểu diễn nhạc cụ dân gian trong cuộc sống đương đại, “vua gõ muỗng” Trần Quang Hải đã dùng hai chiếc thìa inox khuấy động cả không gian theo đủ loại tiết tấu, “vua đàn môi” Trần Quang Hải đã chinh phục tuổi mới lớn bằng cách đưa âm sắc dịu dàng huyền ảo của đàn môi H’Mông vào âm nhạc điện tử techno, đã mê hoặc con trẻ bằng cách cho đàn môi hát lên “tiếng nói của robot”. Hơn 30 nǎm tìm hiểu và trở thành chuyên gia lớn nhất về lối hát “đồng song thanh”, ông phổ biến kỹ thuật hát đặc biệt của người Mông Cổ ra khắp thế giới, và cùng với việc phát triển giá trị nghệ thuật, ông không bỏ qua tác dụng “thiền” của nó trong chữa trị stress tâm lý, cũng như đã từng thử tìm cách giúp người dị tật thanh quản phát ra được các nguyên âm qua một nhạc cụ đơn giản và dễ chế tạo là đàn môi Việt Nam.
Sự quan tâm đến mối liên hệ giữa âm nhạc học với tâm lý học và điều trị học đã phần nào cho thấy tính nhân bản trong hoạt động âm nhạc của giáo sư Trần Quang Hải. Không chỉ một lần ông đã thành công khi dùng âm nhạc làm tiếng nói chung, làm chìa khóa mở được lòng người bất kể quốc gia hay sắc tộc. Đến với những người Việt Nam trong một trại điên ở Hà Lan, ông hát hàng giờ dân ca các vùng miền đất nước và dõi theo từng ánh mắt chợt lóe lên ở những người đã nhiều nǎm khép kín không trò chuyện với bất cứ ai. Giai điệu quê hương đánh thức nhiều điều trong tâm tư tình cảm của những con người bị coi là hoàn toàn mất trí, khiến họ bất ngờ trở nên cởi mở và tin tưởng vào một vị khách mới lần đầu giáp mặt. Chỉ vài nǎm sau bước khởi đầu kỳ diệu đó, hầu hết người Việt trong trại đã vượt ra khỏi sự giam hãm của chính mình để trở về hòa nhập với đời thường.
Tình cảm cộng đồng là một phần của tình yêu dân tộc. Khó mà kể cho hết về tình yêu quê hương, tình yêu âm nhạc dân tộc ở một nhà dân tộc nhạc học, lại là một nhà dân tộc nhạc học cha truyền con nối. Chỉ biết rằng tình cảm ấy đang có điều kiện biểu lộ ngày một rõ hơn qua mối quan tâm của giáo sư Trần Quang Hải tới hoạt động nghiên cứu âm nhạc dân tộc trong nước. Đã qua rồi thời kỳ của những định kiến, những thông tin chưa đầy đủ thậm chí sai lệch, để dần dần hình thành mối giao lưu đồng nghiệp, sự hợp tác chuyên môn cần thiết mà giới âm nhạc Việt Nam ở hoải ngoại mong muốn khi hướng về đất nước. Thông qua Viện Âm nhạc, giáo sư Trần Quang Hải đã lập quỹ tài trợ cho các nhà nghiên cứu trẻ, tạo dựng những mối quan hệ quốc tế trong hoạt động khoa học của Viện, cung cấp tài liệu, viết bài và góp ý về nội dung cho tạp chí chuyên ngành Thông báo khoa học. Mấy nǎm gắn bó “từ xa”, đến tháng 9 nǎm 2002 mới có được cuộc gặp mặt đầu tiên giữa ông với Viện Âm nhạc. Lần đầu mà như người trở về, ông được tiếp nhận như một thành viên danh dự của Viện Âm nhạc, một vị trí mà cha ông - giáo sư Trần Vǎn Khê đã và đang có hơn hai chục nǎm nay.
Nguyễn Thị Minh Châu
Trích trang nhà Viện Âm Nhạc Hà Nội
http://www.vnstyle.vdc.com.vn/vim/vietnamese/thongtin/bai_ChavaCon.htm