Music news from a Vietnamese traditional musician

Category » Bài người khác

Sáng tác nhạc trên cơ sở nhạc dân gian các dân tộc thiểu số





Chơi đàn K'lung K'lơk dân tộc M'nông Gar

Ngay sau Đại hội Đảng toàn Quốc lần thứ II (tháng 2-1951) giới nghiên cứu, sáng tác và biểu diễn âm nhạc đã bắt tay vào công tác sưu tầm, chỉnh lý và biểu diễn âm nhạc, múa dân gian các dân tộc. Nhiều tác phẩm âm nhạc dân gian của các dân tộc ít người đã nhanh chóng được sưu tầm chỉnh lý và đưa lên sân khấu biểu diễn đã làm thay đổi diện mạo đời sống âm nhạc lúc bấy giờ. Trong bài Mấy vấn đề Vǎn nghệ Việt Nam hiện nay của Trường Chinh viết nǎm 1957 có đoạn: “Chúng ta đã biết quý trọng vốn vǎn nghệ dân tộc và đã bước đầu bắt tay vào sưu tầm, nghiên cứu vốn quý đó. Điệu hát qua cầu gió bay, các điệu múa sạp, múa nón đã làm tươi vui thêm đời sống của chúng ta và đã được truyền ra nước ngoài”.

Phát huy hiệu quả tích cực ấy, suốt gần nửa thế kỷ qua những người làm công tác sưu tầm âm nhạc đã bỏ ra bao công sức để gom góp về một vốn di sản âm nhạc dân gian khá đồ sộ của các dân tộc thiểu số trong cả nước. Xin thông báo một kết quả thống kê mới nhất: hiện nay, kho lưu trữ âm thanh của Viện Âm nhạc đang lưu giữ 8.058 bài dân ca và 7.150 bản dân nhạc của 53 dân tộc thiểu số trong cả nước. Dựa vào những con số thống kê trên đây chúng ta cũng có thể nhận biết sự đóng góp trí tuệ nghệ thuật của đồng bào các dân tộc thiểu số để làm giàu cho kho tàng nghệ thuật Việt Nam lớn biết chừng nào. Hãy thử tưởng tượng nếu không có được một suối nguồn âm nhạc phong phú ấy thì có lẽ ngành múa của chúng ta làm gì có thể phát triển đa dạng như ngày nay, ngành nhạc của chúng ta làm gì có được sự giàu có về chất liệu để chúng ta có được hàng trǎm ca khúc nổi tiếng mang âm hưởng dịu dàng, đằm thắm của dân ca vùng núi phía Bắc, mang âm hưởng khát khao, nồng nhiệt của cao nguyên v.v...

Ngày nay, trong cơ chế thị trường, âm nhạc và sinh hoạt âm nhạc đang co cụm, tập trung tối đa vào một hình thức có tên gọi chung là nhạc “trẻ”, chủ đề nhạc trẻ tập trung tối đa vào tình yêu. Tình yêu choán tất cả, dâng cao hơn tất cả làm cho lớp trẻ cũng chạy vào cái “tôi”. Tôi đến tối đa, con người trở thành ích kỷ và thực dụng.

Hòa tấu đàn T'rưng, Mõ dân tộc Bahnar

Trong lúc ở hầu hết các đô thị, từ các nhà vǎn hóa đến quán karaoke, đâu đâu cũng chỉ thấy nhạc tiết tấu ngập ngụa âm thanh điện tử, thì may thay ở các bản làng, phum, sóc người dân tộc thiểu số vẫn ròn rã tiếng Tính, tiếng Goong, vẫn đậm đà tiếng Sli, tiếng Ayray, vẫn hùng vang tiếng Chiêng đồng. Cái sự “vẫn” ấy như đang thách thức chúng ta, những người quản lý vǎn hóa, những người sáng tạo nghệ thuật, một trách nhiệm vô cùng lớn là bảo tồn lại được sinh thái nghệ thuật để từ đấy phát triển một cách đúng hướng và đúng đắn, làm sao nó vĩnh viễn là nó phát triển, chứ không phải là sự cấy ghép những gien lạ để tạo cho nó không còn là nó nữa. Dẫu vậy, những tác phẩm của nhiều thế hệ nhạc sĩ lấy chất liệu từ âm nhạc dân gian của đồng bào dân tộc thiểu số đã thực sự thành công và đã để lại những dấu ấn đặc biệt. Những dấu ấn ấy dường như đã định ra được con đường, con đường dân tộc - phát triển. Con đường ấy đang làm cho nó khác biệt với lối sáng tác thương trường: giai điệu chung chung, tiết tấu nhảy nhót, âm thanh ồn ã.

ít nǎm trở lại đây, những tác phẩm hay về đề tài cuộc sống, tình yêu và lao động của các nhạc sĩ viết cho đồng bào các dân tộc vắng bóng dần, thưa thớt dần. Sự vắng bóng này vừa logic vừa phi logic. Logic vì đại đa số nhạc sĩ chúng ta chưa tìm ra lối viết, tìm ra đề tài thích hợp mang tính đời hơn tính đạo. Phi logic vì chúng ta đang có trong tay một kho tàng chất liệu âm nhạc dân gian đồ sộ mà ta không viết nổi. Có lẽ vì điều này mà chúng ta có cuộc hội thảo hôm nay. Theo tôi, hiện tượng trên đây xuất phát từ những lý do sau:

- Thứ nhất: các tác giả chưa tìm được lối viết mới phù hợp với tâm lý của lớp trẻ các dân tộc ít người.

- Thứ hai: lớp nhạc sĩ trẻ không quan tâm và cũng có rất ít kiến thức về âm nhạc dân gian các dân tộc ít người.

- Thứ ba: đã không phải là âm nhạc thương trường nhưng lại không được quan tâm đầu tư của Nhà nước.

- Thứ tư: tâm lý và nhu cầu thưởng thức âm nhạc của thanh niên các dân tộc ít người đã thay đổi.

Tất cả những lý do trên đây đều xuất phát từ cơ chế thị trường, mà mặt mạnh của cơ chế này là quảng cáo, là tuyên truyền, lấy quảng cáo tuyên truyền làm cứu cánh. Còn chúng ta, những người đang hành động theo lý tưởng cao cả định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta lại ít coi trọng quảng cáo và lại càng ít quan tâm tới một thị trường tiêu thụ. Lê Lương Giang trong bài Tính thực dụng của vǎn hóa Mỹ có đoạn viết: “Có thể nói, vǎn hóa Mỹ gắn chặt với tiêu dùng... Eddie Bermays, người sáng tạo ra từ publie relations (giao tế nhân sự), phát hiện ra rằng muốn bán hàng thì không thể nhằm vào lý trí của khách hàng. Tức là không thể nói khách hàng nên mua món hàng nào đó, mà phải tạo cảm giác họ sẽ cảm thấy vui hơn khi mua nó”. Một đoạn khác lại viết: “chủ nghĩa tiêu thụ gắn hàng hóa với cảm giác sung sướng. Tại Mỹ, khẩu hiệu quảng cáo, chiêu thức tiếp thị đã tạo ra một nghệ thuật đánh vào cảm xúc, khơi dậy sự ham muốn có nhiều thêm nữa”.

Tôi trích đoạn bài viết trên đây để hướng tới việc giải quyết tính thực tiễn và tính hiệu quả xã hội cho những sáng tạo nghệ thuật trong cuộc vận động sáng tác nhạc cho đồng bào các dân tộc thiểu số. Bởi lẽ từ trước tới nay ta đã mở nhiều cuộc vận động sáng tác nhưng ta vẫn nặng về lý trí, nặng về kết quả tại chỗ hơn là nặng về hiệu quả thực dụng trong đời sống, hay nói một cách khác, muốn ý tưởng sáng tạo nghệ thuật mang tính định hướng tới cuộc đời có lẽ chúng ta cần có:

- Thứ nhất: cần thay đổi phương pháp và cấu trúc tác phẩm, làm sao tác phẩm vừa mang màu sắc, âm hưởng dân tộc, lại vừa mang tính thưởng thức, tính tiếp nhận cao của đối tượng hưởng thụ.

- Thứ hai: cần chọn lọc các tác phẩm có chất lượng nghệ thuật cao, phù hợp tâm lý thưởng thức để làm các sản phẩm nghe nhìn chất lượng cao (mẫu mã đẹp, hình ảnh hấp dẫn) phổ biến tới tay người tiêu dùng (sản phẩm không có người tiêu dùng là sản phẩm duy ý chí).

- Thứ ba: cần tổ chức biểu diễn thường xuyên các tác phẩm đã được chọn lọc, kết hợp với phát thanh và truyền hình phát với thời lượng lớn.

- Thứ tư: để luôn luôn duy trì, bảo vệ được vốn âm nhạc dân gian các dân tộc, lấy đấy làm cơ sở sáng tạo, làm lưng vốn kế thừa, cần duy trì các không gian vǎn hóa và nghệ thuật dân gian. Cần đầu tư làm nhiều sản phẩm bǎng đĩa nghệ thuật dân gian đưa về cho các chủ nhân sáng tạo ra nó nhằm khích lệ sự duy trì và bảo tồn vốn di sản quý báu này.

Để quần chúng hiểu ta, ta phải hiểu quần chúng muốn gì, có như vậy những sáng tạo của chúng ta mới được quần chúng đón nhận. Quần chúng - đối tượng hưởng thụ của chúng ta hôm nay đã khác xa hôm qua. Người dân tộc thiểu số hôm nay là quần chúng nhiều trí tuệ và vǎn hóa.

 Đặng Hoành Loan

 trích trang nhà Viện Âm Nhạc Hà Nội

http://www.vnstyle.vdc.com.vn/vim/vietnamese/thongtin/bai_sangtacnhac.htm 

•• Âm nhạc cổ truyền

•• Nhạc mới

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•••• Nghệ sĩ từ trần

•• Nghiên cứu gia VN

•• Nhạc thiểu số

•• Tiểu sử ca sĩ

•• CA TRU

•• HÁT XẨM & TRỐNG QUÂN

•• Nhạc Hàn Quốc

•• Nhạc Nhựt Bổn

•• Nhạc Trung quốc

•• Nhạc Đông Nam Á

•• Nhạc Mông Cổ

•• Nhạc sắc tộc

•• Nhạc Tuva

•• song thanh tác giả khác

•• song thanh TQH

•• Giọng trị bịnh

•••• Chakra - Yoga

•• Ca sĩ Khoomei

•• Nghiên cứu gia Khoomei

•• Âm thanh học

•• Ngôn ngữ khác

•• Đàn Mội Hmông

•• Tiêm ban sach và nhac cu

•• Tiểu sử dân tộc nhạc học gia

•• Trang nhà dân tôc nhac hoc

•• Phân mêm : Phân tach bôi âm

•• Muông

•• Tran Quang Hai

•• Nhac si Viêt Nam

•• Hat dông song thanh

•• Bach Yên

•• VIDEO/CD trên WEB

•• Nhạc Việt cổ truyền

•• Đàn Môi

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•• Tiểu sử

•• Phỏng vấn báo, radio

•• Bài viết

Visitors: 4830123